Sẽ thu phí nước thải từ đầu năm 2004

 

(TTXVN, 29/9/2003)

Bộ Tài nguyên-Môi trường và Bộ Tài chính đang gấp rút hoàn thiện công văn liên tịch hướng dẫn thực hiện nghị định của Chính phủ về việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.

Theo dự kiến, từ ngày 1/1/2004, Việt Nam sẽ tiến hành thu phí nước thải với mục đích hạn chế ô nhiễm môi trường từ nước thải, tiết kiệm nước sạch, tạo nguồn kinh phí cho Quỹ Bảo vệ môi trường và đặc biệt là tạo thói quen với các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh có nước thải chứa chất ô nhiễm có trách nhiệm phải xử lư nước gây ô nhiễm trước khi thải ra môi trường.

Theo số liệu thống kê, hàng năm ở Việt Nam lượng nước thải các loại chưa được xử lư vẫn xả thẳng vào môi trường lên tới hơn 1 tỷ m3. Hiện nay, khi doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn môi trường về xử lư nước thải (nước thải dưới tiêu chuẩn cho phép) th́ không c̣n bị ràng buộc nào về xả nước thải. Theo ông Trương Mạnh Tiến, Vụ Trưởng vụ quản lư môi trường, Bộ Tài nguyên-Môi trường, điều này là không công bằng v́ có cơ sở sản xuất có hàm lượng chất ô nhiễm cao nhưng pha loăng để đạt mức tiêu chuẩn cho phép th́ vẫn thải được.

Nghị định của Chính phủ quy định trước mắt 7 chất ô nhiễm gồm: nhu cầu oxy sinh hóa (BOD), nhu cầu oxy hoá học (COD), chất rắn lơ lửng, thuỷ ngân, ch́, arsenic và cadmium có trong nước thải công nghiệp sẽ là đối tượng được tính để áp dụng đánh phí môi trường. Mức phí cao nhất các cơ sở phải nộp cho 1kg thủy ngân có trong nước thải là 20 triệu đồng. Ông Tiến cho rằng cách tính này sẽ rất công bằng, cơ sở nào thải ra b́nh thường và cơ sở nào pha loăng nước thải đều xác định được dựa trên hệ số quy đổi.

Riêng với nước thải sinh hoạt, mức thu được tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá bán một mét khối nước, không quá 10% giá nước sạch chưa gồm VAT.

Có ư kiến cho rằng khung mức phí môi trường đối với nước thải công nghiệp vẫn c̣n quá thấp, chỉ bằng 1/10 đến 1/15 mức phí hiện nay một số nước trên thế giới và trong khu vực. Tuy nhiên, nếu áp dụng phí tương đương như một số nước khác th́ doanh nghiệp Việt Nam sẽ không có đủ khả năng nộp đủ số phí này. Mặc dù vậy, với mức phí như quy định mới, ước tính có doanh nghiệp sẽ phải nộp hàng trăm triệu đồng mỗi tháng.

Mức tính phí đối với nước thải áp dụng theo 6 loại đô thị từ đô thị đặc biệt (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) đến loại V. Ngoài ra c̣n có mức tính tính theo hệ số vùng: những vùng sâu vùng xa nơi mà nền môi trường c̣n tiếp nhận được nước thải hoặc thậm chí c̣ng có khả năng tự làm sạch th́ sẽ thu ở mức thấp. C̣n ở những vùng đông dân cư, khu công nghiệp dù chỉ thải ra 1 chút thôi th́ cũng sẽ vượt mức tiêu chuẩn không thể chấp nhận được th́ nơi đó sẽ phải thu phí rất cao. Mặt khác c̣n có hệ số tính đối với loại h́nh doanh nghiệp, doanh nghiệp nào thải ra có hàm lượng độc hại cao th́ có mức thu phí khác so với các loại ít độc hơn.

Riêng đối với các KCN và khu chế xuất tập trung, thu ở mức xử lư nước thải lần 2 (các cơ sở trước khi thải ra ḍng thải chung phải xử lư nước thải-xử lư bước 1) th́ chỉ đánh vào nguồn thải tập trung như vậy người quản lư KCN, KCX sẽ có trách nhiệm hơn trong việc kiểm soát xả thải tại từng doanh nghiệp. Nếu như sau xử lư bước 1 mà ḍng thải chung của KCN vẫn c̣n chất ô nhiễm th́ mới đánh phí nước thải trong ḍng thải chung đó. Đối với các KCN,KCX th́ không thu phí tại từng doanh nghiệp.

Ông Trương Mạnh Tiến cho biết: Do số lượng doanh nghiệp rất nhiều, không thể làm cụ thể từng doanh nghiệp được nên dự kiến bước đầu chúng tôi sẽ thu phí nước thải dựa trên cơ sở các doanh nghiệp tự khai phí nước thải công nghiệp theo mẫu. Các Sở Tài nguyên-Môi trường của các tỉnh chịu trách nhiệm hướng dẫn các doanh nghiệp kê khai theo mẫu, thẩm định tờ khai và thu phí theo tờ khai đó. Về lâu dài có những vấn đề nảy sinh trong giai đoạn đầu th́ chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra một số điểm trong việc kê khai cách tính và bổ sung thêm các chất gây ô nhiễm vào diện đánh phí.

Vấn đề tranh căi nhất là làm thế nào kiểm tra một cách chính xác các hàm lượng có trong chất thải. Theo ông Tiến, Bộ Tài nguyên-Môi trường đang xem xét việc cấp phép cho các cơ sở khoa học, pḥng thí nghiệm có đủ điều kiện và trang thiết bị để đánh giá một cách chính xác các chất gây ô nhiễm có trong nước thải của các doanh nghiệp. Mặt khác, sẽ có các chuyên gia nước ngoài tham gia vào việc kiểm tra các hàm lượng có trong chất thải.

Ông Tiến tin rằng đến lúc này các doanh nghiệp sẽ không đứng ngoài cuộc v́ qua các cuộc tiếp xúc, hội thảo, hội nghị, các doanh nghiệp đă thấy được vấn đề là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hàng rào môi trường rất quan trọng v́ khi doanh nghiệp có nhăn sinh thái trên sản phẩm th́ họ có chỗ đứng rất vững vàng trên thị trường trong và ngoài nước. Ngoài ra giám đốc hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân người ta thấy việc làm này là có lợi cho họ và các cá nhân trong doanh nghiệp v́ bảo đảm sức khoẻ và cho môi trường chung chưa nói đến việc lợi nhuận sẽ tăng lên nếu như họ áp dụng các cơ hội sản xuất sạch hơn.

Cho dù nguồn thu phí từ nước thải này bước đầu sẽ không đủ để xử lư một cách triệt để các vấn đề ô nhiễm môi trường nhưng việc thu này sẽ góp phần hạn chế gây ô nhiễm, h́nh thành có thói quen xử lư giảm ô nhiễm trước khi xả thải và thông qua kinh nghiệm thu phí nước thải, sẽ tiến hành thu phí rác thải, khí thải, như vậy về mặt tổng thể Việt Nam có thể chủ động trong việc giảm thiểu ô nhiễm và tăng một nguồn thu khá lớn cho Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam.