Thu
phí nước thải – Cả cơ quan quản lư và doanh
nghiệp đều háo hức
(Tiền phong, 17/9/2003, tr. 4)
Đại diện cao nhất của Bộ
Tài nguyên và Môi trường tại hội nghị cả
ngày 16/9 ở Hà Nội lộ rơ vui mừng khi quả
quyết sẽ không giăn thời hạn thực hiện thu
phí nước thải từ ngày 1/1/2004 như bàn lùi
của một số địa phương. Đại
diện một doanh nghiệp Bia Hà Nội cũng không
giấu sự tán đồng Nghị định mới
của Chính phủ (số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003) quy định
về phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải. “Thực hiện Nghị định
sớm lúc nào tốt cho chúng tôi lúc ấy – Doanh nghiệp bia
nói – Chúng tôi sẽ yên tâm thải mà không lo người ta (ư
chỉ dân cư xung quanh và cơ quan quản lư) suốt ngày
réo ḍi chúng tôi phải “trả giá”...
Chỉ tiếc là bên thứ ba rất lớn
có liên quan là khu vực dân cư không có ai đại diện
tại hội nghị để bày tỏ nỗi ḷng.
Các mức phí nào?
Nghị định 67 quy định từ
1/1/2004 trở đi, nước thải công nghiệp (ghi
rơ 8 loại trong đó có nước thải của cơ
sở sửa chữa ô tô, xe máy tập tung) và nước
thải sinh hoạ (5 loại trong đó có nước
thải của cơ quan nhà nước, của đơn
vị vũ trang) sẽ bị thu phí bảo vệ môi
trường với mức thu được hướng
dẫn khá cụ thể. Mức thu đối với
nước thải sinh hoạt tính theo tỷ lệ
phần trăm trên giá bán 1m3 nước sạch nhưng
tối đa không quá 10% giá bán nước sạch chưa
bao gồm thuế giá trị gia tăng. Với nước
thải sinh hoạt thải từ các tổ chức,
hộ dân cư tự khai thác nước để sử
dụng (trừ các hộ thuộc diện không phải
nộp phí bảo vệ môi trường đối với
nước thải); mức thu được xác định
theo từng người sử dụng, căn cứ vào
lượng nước sử dụng b́nh quân đầu
người trong xă/phường nơi khai thác và giá cung
cấp 1m3 nước sạch trung b́nh tại địa
phương.
Làm chặt, thu đủ, tiền thu được
từ nhóm này không nhỏ.
Với nước thải công nghiệp,
nguồn thải gây ô nhiễm trầm trọng nhất,
cơ sở để thu phí phức tạp hơn
nhiều và cũng gây tranh căi nhiều nhất. Việc thu được
thực hiện theo chất gây ô nhiễm và có tới 28
mức thu khác nhau, từ thấp nhất 100 đ đến
cao nhất 20.000.000 đ/kg chất gây ô nhiễm có trong
nước thải. Mức thu nào cũng phức tạp,
rắc rối ngay từ đầu. Ví dụ muốn thu
phí, trước hết phải xác định xem
nước thải đó có những chất gây ô nhiễm
nào trong số 7 chất mà Thủ tướng Chính phủ
quy định. Với tŕnh độ Việt Nam hiện
nay, ông Nguyễn Duy Nhu – PGĐ Sở Tài nguyên và Môi
trường Nghệ An cho biết, mất 5-6 ngày để
định lượng một chất gây ô nhiễm.
Một Hải Pḥng có 10.000 cơ sở công nghiệp hay Tp.
Hồ Chí Minh 35.000 cơ sở bao giờ mới đo
hết? Đấy là chưa nói mỗi cơ sở
thường có mấy cửa xả nước thải
th́ phải kiểm tra cửa xả nào, chưa nói cơ qua
nào có tư cách pháp nhân để đi đo các nguồn
thải đó, v.v...
Dùng phí làm ǵ?
Trước hết, sẽ có 2 đơn
vị thu phí. Đó là đơn vị cung cấp
nước sạch và Sở Tài nguyên và Môi trường. Phí
thu được từ hai đơn vị được
phân bổ không giống nhau. Với phí nước thải
sinh hoạt, một phần được để cho đơn
vị cung cấp nước sạch để trang
trải cho chi phí thu phí với tỷ lệ tối đa
không quá 10% trên tổng số thu. C̣n lại nộp vào ngân
sách và chia cho các cấp ngân sách.
Với thí thu từ nước thải công
nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường các địa
phương được hưởng 20% tổng số
tiền thu. Phần c̣n lại cũng được
xử lư như với phí thu nước thải sinh
hoạt. Theo đó, 50% của phần này gửi về trung
ương để xung vào Quỹ Bảo vệ Môi
trường Việt Nam vừa h́nh thành và có ngay lưng
vốn 200 tỷ đồng. C̣n lại để chia cho địa
phương bảo để đầu tư mới,
nạo vét cống rănh, duy tu, bảo dưỡng hệ
thống thoát nước tại địa phương.