(Công
nghiệp Việt Nam, số 40 (380), ngày 1/10/2003, tr. 4)
- Ông Chu Minh Tuấn – Giám
đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Pḥng:
Có thể thấy việc
thu phí nước thải sinh hoạt là vấn đề
rất mới mẻ đối với người dân.
Trở ngại đầu tiên khi triển khai chính sách này là
hiện nay nhiều khu vực, đối tượng
chưa được hưởng lợi từ hệ
thống cấp và thoát nước, nhưng vẫn thuộc
đối tượng thu phí. Đơn cử ở Hải
Pḥng, hiện có hơn 20% khu vực nội thành chưa
được cấp nước thông qua hệ thống
đường ống cấp nước mà chủ
yếu chuyển bằng xe téc hoặc khai thác từ các
giếng khoan. Bên cạnh đó, không thể kiểm soát
lượng nước thải v́ nước thải sinh
hoạt, công nghiệp và cả nước mưa được
thoát chung qua hệ thống thoát nước cũ.
Nước ở các trạm sửa chữa ôtô, xe máy,
rửa xe có chứa lọc dầu và hoá chất tẩy
rửa cũng được đổ thẳng vào hệ
thống cống thải chung của thành phố. Cái khó
ở đây là chưa có cách tính phí đúng và đủ. Do
vậy rất khó khuyến khích các đối tượng
tham gia nghĩa vụ nộp phí.
- Ông Nguyễn Duy Nhu – Giám
đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An:
Với những thành
phần kim loại nặng cực độc không nên có
chế tài phạt mà buộc phải xử lư triệt
để
Để đạt
được yêu cầu của Nghị định, nên chia
ra làm nhiều giai đoạn. Ví dụ như giai
đoạn đầu, thời hạn là 2 – 3 năm,
chưa nên thu phí đối với các doanh nghiệp đă
có hệ thống xử lư nước thải đạt
tiêu chuẩn thải vào nguồn tiếp nhận theo quy
định. Với doanh nghiệp có lượng
nước thải sản xuất không nhiều, khó có
khả năng thiết lập hệ thống xử lư
cũng không nên đưa vào diện thu phí nếu doanh
nghiệp đó có hợp đồng thu gom xử lư
nước thải. Đặc biệt, với các thành
phần kim loại nặng như ch́, thuỷ ngân cần
bắt buộc phải xử lư triệt để thay v́
chỉ nộp phí. V́ dù mức thu có cao như Nghị
định nêu, cũng khó bù đắp được
thiệt hại mà chúng gây ra. Hơn nữa, mức phạt
cao có thể khiến doanh nghiệp ỷ lại “nộp
phạt” mà không đầu tư cho xử lư ngay tại
nguồn.
- Ông Phạm Văn
Nghĩa: Giám đốc Công ty Pin Hà Nội
Thu phí cũng chỉ là
giải pháp t́nh thế
Chủ trương
của Chính phủ là rất đúng, chúng tôi hoàn toàn ủng
hộ. Vấn đề là phải thực hiện như
thế nào cho có hiệu quả. Việc xử lư không nên quá
cứng rắn mà phải đảm bảo sự hài hoà.
Ví dụ: những nhà máy mới xây dựng th́ dứt
điểm phải có hệ thống xử lư nước
thải, những nhà máy cũ do lịch sử để
lại th́ nên tuỳ mức độ ô nhiễm nặng
hay nhẹ mà buộc phải t́m biện pháp xử lư hay
phạt cho tồn tại. Thực ra, việc thu phí
nước thải công nghiệp cũng chỉ là giải
pháp t́nh thế. Quan trọng là phải đạt
được mục đích: môi trường có c̣n ô
nhiễm hay không?