HỆ THỐNG QUẢN TRỊ HỖ TRỢ

THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH 67 VỀ PHÍ NƯỚC THẢi

ĐỐI VỚI LOẠI H̀NH CƠ SỞ SẢN XUẤT

 

HOÀNG DƯƠNG TÙNG

LÊ HOÀNG ANH

Cục Bảo vệ môi trường

 

Đặt vấn đề

Ngày 13/6/2003 Chính phủ đă ban hành Nghị định 67/2003/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Theo Nghị định, nước thải chia thành 2 nhóm với những cách tính và cách thu phí khác nhau, đó là nước thải sản xuất từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản v.v.... và nước thải sinh hoạt từ các hộ gia đ́nh, không dùng cho mục đích sản xuất.

Cũng theo Nghị định, các Sở Tài nguyên và Môi trường (Sở TNMT) sẽ phải là những cơ quan chính tại địa phương chịu trách nhiệm thực hiện tính phí và quản lư phí (riêng phần thu phí, Chính phủ giao cho hệ thống kho bạc Nhà nước). Trong điều kiện hiện nay, đây thực sự là nhiệm vụ rất khó khăn và nặng nề đối với các cơ quan quản lư môi trường địa phương, đ̣i hỏi phải có những biện pháp thực hiện với cách tiếp cận hệ thống mới mang tính khả thi, từng bước không cầu toàn và hiệu quả mang tính xă hội cao để làm sao đạt được mục tiêu cuối cùng của Nghị định, đó là nâng cao ư thức trách nhiệm của mỗi người dân, của từng cơ sở trong xă hội trong việc bảo vệ môi trường.

Chắc chắn rằng trong xă hội thông tin ngày nay, cách tiếp cận này phải dựa trên nền tảng của những dữ liệu, thông tin cụ thể và thường xuyên được cập nhật trao đổi từ các đối tượng liên quan. Chúng phải được tổ chức lưu trữ, xử lư một cách khoa học và tự động để luôn sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu thường xuyên và đột xuất của công tác quản lư các cấp.

Các nội dung tŕnh bày dưới đây là một số đề xuất liên quan trực tiếp đến thực hiện và triển khai Nghị định đối với các cơ sở sản xuất, đó là quản lư phí nước thải bao gồm cả việc tính phí nước thải.

Tính phí nước thải đối với các cơ sở sản xuất

Theo Nghị định, phí nước thải sản xuất được tính dựa trên tổng lượng nước thải và nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước thải thực tế của cơ sở sản xuất. Về mặt lư thuyết, trên cơ sở các thông tin về loại h́nh sản xuất và dây chuyền công nghệ, các cơ quan quản lư có thể tính toán một cách tương đối những giá trị này. Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta khi hơn 90% các cơ sở sản xuất là nhỏ và vừa với các thiết bị công nghệ lạc hậu th́ rất khó có thể dự báo được khoảng lưu lượng thải và nồng độ ô nhiễm là bao nhiêu. Vậy th́ làm thế nào để tính được phí? Có thể thấy có một số phương án như sau:

Phương án 1: Các cơ quan quản lư địa phương tổ chức quan trắc đối với từng cơ sở sản xuất để có số liệu chính xác về lưu lượng và nồng độ ô nhiễm các chất thải.

Về phương diện nào đó, phương án này sẽ làm cho các nhà quản lư yên tâm nhất khi tự ḿnh thực hiện việc đo đạc và tính toán mức phí cụ thể. Tuy nhiên trên thực tế, với số lượng cơ sở sản xuất rất lớn có xu hướng ngày càng tăng và đa dạng như hiện nay (ví dụ, hiện nay tại Thành phố Hồ Chí Minh có hơn 30.000 và TP. Hải Pḥng có hơn 10.000 cơ sở sản xuất lớn nhỏ) th́ các Sở TN&MT với nguồn lực (kinh phí, nhân lực, thời gian, thiết bị ...) có hạn khó có thể thực thi tốt được. Chỉ riêng việc tổ chức quan trắc tại các cơ sở đă có thể tốn rất nhiều kinh phí của Nhà nước mà vẫn không tránh khỏi sự thắc mắc, thiếu đồng thuận của các cơ sở sản xuất. Phương án này cũng phần nào mang tính áp đặt, không nâng cao được trách nhiệm và sự tham gia của cơ sở, không xă hội hoá được công tác bảo vệ môi trường.

Phương án 2: Trên cơ sở hướng dẫn của cơ quan quản lư, các cơ sở sản xuất tự tính toán và tự kê khai phí nước thải của ḿnh; các cơ quan quản lư chủ yếu tập trung vào việc hỗ trợ hướng dẫn cách tính đồng thời tăng cường công tác hậu kiểm bao gồm kiểm tra, giám sát việc tự kê khai của các cơ sở sản xuất (giống như cách tính thuế đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh hiện nay), áp dụng chế tài đă được Chính phủ qui định tại Nghị định 106/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phí, lệ phí đối với các cơ sở kê khai không đúng.

Có thể có suy nghĩ rằng, do nhiều lư do chủ quan và khách quan (như tính tự giác, năng lực thiết bị và tŕnh độ cán bộ tại cơ sở v.v...) sẽ có nhiều cơ sở khai tuỳ tiện theo hướng có lợi cho cơ sở bằng cách khai không đúng, không đủ, do đó làm giảm hiệu lực của quản lư. Tuy nhiên cũng phải thấy những ưu điểm của phương án này trong điều kiện hiện nay. Đó là, thông qua giám sát, kiểm tra thường xuyên, dần dần tính tự giác và trách nhiệm về bảo vệ môi trường của các cơ sở sẽ tăng lên, làm cho các cơ sở ngày càng nhận thức được việc tự tính phí của ḿnh do đó tính chính xác của cách tính phí sẽ dần dần được nâng cao. Mặt khác, trong quá tŕnh đó các cơ quan quản lư nhà nước sẽ phải nâng cao năng lực để làm đúng vai tṛ trách nhiệm của ḿnh. Như vậy, quá tŕnh thực hiện Nghị định sẽ huy động tối đa sự tham gia của các bên (cơ quan quản lư và cơ sở sản xuất), làm tăng hiệu lực quản lư, giảm chi phí của Nhà nước, dần dần giảm thiểu được ô nhiễm môi trường nước. Ngoài ra trong quá tŕnh thực hiện cũng sẽ từng bước tạo được sự tin tưởng và đồng thuận của các bên cũng như đẩy mạnh được quá tŕnh xă hội hoá công tác bảo vệ môi trường. Có thể thấy, theo phương án này, thời gian đầu thực hiện Nghị định, các cơ quan quản lư sẽ tập trung vào việc hướng dẫn các cơ sở sản xuất hiểu đúng và tính đúng phí nước thải của ḿnh. Công tác giám sát, kiểm tra sẽ được thực hiện dần dần trong các năm tiếp theo.

Theo Phương án 2, qui tŕnh tính phí nước thải sẽ bao gồm việc cơ sở sản xuất dựa trên lưu lượng nước thải và nồng độ các chất ô nhiễm của ḿnh (có thể tự đo hoặc thuê đo) tính phí nước thải. Sau đó nộp kê khai cho Sở TNMT để Sở TNMT kiểm tra, tính toán (nếu thấy cần thiết). Nếu chấp thuận mức phí như cơ sở tính toán th́ ra thông báo chính thức mức phí nộp. Nếu không, sẽ đề nghị để cơ sở tính toán lại. Sở TNMT chỉ đo đạc quan trắc cụ thể trong trường hợp cơ sở sản xuất không đồng ư với đề nghị của Sở (Xem sơ đồ 1).

 

Quản lư t́nh h́nh thu và sử dụng phí nước thải

Theo Nghị định, tại địa phương, các Sở TN&MT sẽ phải quản lư phí bao gồm các thông tin về mức phí phải nộp, thời gian nộp phí, số phí đă nộp, số phí c̣n nợ v.v...; t́nh h́nh thu phí tại Công ty nước sạch; phân bổ kinh phí (cho Sở TN&MT, Công ty nước sạch, UBND tỉnh/thành phố, Quĩ Bảo vệ Môi trường). Ở cấp Trung ương, các thông tin cần quản lư sẽ bao gồm t́nh h́nh thu phí ở các tỉnh, ngành; t́nh h́nh sử dụng phí hàng năm; mức độ ô nhiễm nước tại các tỉnh thành v.v... Trên góc độ quản lư, tất cả các thông tin này phải được đáp ứng một các nhanh chóng, kịp thời và chính xác theo yêu cầu định kỳ cũng như đột xuất của các cấp quản lư trung ương và địa phương.


 


Theo cách quản lư sổ sách truyền thống, rất khó có thể đáp ứng được những yêu cầu đặt ra. Với hệ thống đó sẽ rất khó thống kê tổng hợp, khó tra cứu và đ̣i hỏi nhiều nhân lực với tŕnh độ tốt. Mặt khác lại không công khai được thông tin, không đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước.

Để khắc phục những nhược điểm trên, chúng tôi đề xuất phương án xây dựng hệ thống quản lư tự động từ trung ương đến địa phương trên cơ sở mạng máy tính và các phần mềm chuyên dụng thống nhất. Hệ thống quản lư phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

+ Tạo điều kiện dễ dàng đối với cơ sở sản xuất trong việc kê khai mức phí nước thải.

+ Quản lư hiệu quả và công khai việc thu phí và sử dụng phí. Đáp ứng các nhu cầu nhanh chóng, kịp thời và chính xác tại các cấp trung ương và địa phương về phí nước thải.

+ Phân tích, dự báo về t́nh h́nh ô nhiễm nước và chi phí dành cho bảo vệ môi trường tại các địa phương, các ngành.

+ Công khai hoá mức độ ô nhiễm nước của từng cơ sở.

+ Góp phần nâng cao chất lượng công việc, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên (cơ quan quản lư và doanh nghiệp).

Để đạt được các yêu cầu đó, hệ thống quản lư sẽ bao gồm các chức năng sau:

* Kê khai và thông báo mức phí: Các cơ sở sản xuất có thể dễ dàng tự tính phí và kê khai phí trực tuyến trên mạng ngay tại cơ sở của ḿnh mà không cần phải làm những thủ tục giấy tờ khác. Cũng thông qua mạng, Sở TNMT sẽ thông báo cho các cơ sở sản xuất về những ư kiến (trong trường hợp không đồng ư) và thông báo về mức phí (trong trường hợp chấp nhận) của cơ sở để cơ sở có thể nộp kho bạc. Những thông báo này cũng sẽ được gửi tới kho bạc Nhà nước để theo dơi t́nh h́nh nộp phí.

* Quản lư phí bao gồm quản lư t́nh h́nh nộp phí của các cơ sở sản xuất, đưa ra các báo cáo thống kê theo không gian và thời gian cũng như t́nh h́nh phân bổ và sử dụng phí nước thải tại trung ương và địa phương.

* Đánh giá, phân tích và dự báo t́nh h́nh ô nhiễm nước thải, chi phí dành cho bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trên cơ sở các số liệu hàng năm của các cơ sở về lưu lượng nước thải và nồng độ ô nhiễm các chất cũng như một số thông tin bổ sung khác.

* Thông tin công khai mức ô nhiễm của các cơ sở, địa phương, ngành.

* Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, trước hết là môi trường nước thông qua việc đưa những tin tức, tài liệu liên quan đến Nghị định 67 để các cơ sở sản xuất hiểu rơ hơn mục đích, ư nghĩa của phí nước thải cũng như cách tính, cách nộp và các thông tin cần thiết khác.

Trước mắt, chúng tôi đề xuất một hệ thống quản lư gồm 2 cấp tại trung ương và địa phương (xem sơ đồ 2). Hai cấp này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau bởi luồng thông tin 2 chiều.

+ Tại cấp địa phương (các Sở TNMT), các số liệu về phí nước thải của các cơ sở sản xuất sẽ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên trong các cơ sở dữ liệu. Các cơ sở sản xuất sau khi nhận thông báo mức phí sẽ nộp phí tại kho bạc đồng thời báo cho Sở TNMT biết t́nh h́nh nộp để theo dơi và quản lư. Trong hệ thống này, kho bạc cũng sẽ tổng hợp và thông báo thường xuyên cho Sở TNMT t́nh h́nh nộp phí để Sở đối chiếu so sánh thực tế. Hàng năm, Sở TNMT sẽ quyết toán với kho bạc trên cơ sở đó sẽ phân bổ phí theo qui định của Thủ tướng Chính phủ. Những thông tin tổng hợp sẽ thường xuyên chuyển lên cấp trung ương để tổng hợp và quản lư.

+ Tại cấp Trung ương (Bộ TN&MT) các báo cáo từ các địa phương sẽ được tích hợp trong cơ sở dữ liệu. Từ đó sẽ xây dựng các báo cáo phân tích cấp vĩ mô cho các nhà quản lư. Ngược lại, thông qua mạng, Bộ cũng sẽ chuyển đến cấp địa phương các chính sách và những hướng dẫn, hiệu chỉnh cần thiết. Các thông tin quản lư (thông tin đầu vào và đầu ra) cấp Trung ương và địa phương được cụ thể hoá trong sơ đồ 3 và 4.

Để xây dựng hệ thống quản lư một cách có hiệu quả, cần phải có một số đầu tư cho những việc như sau:

+ Xây dựng hệ thống phần mềm thống nhất có các chức năng nêu trên để quản lư việc tính và thu phí nước thải ở cấp địa phương và cấp Trung ương.

+ Trang bị hệ thống máy chủ, máy trạm và mạng máy tính có kết nối Internet tại Trung ương và địa phương.

+ Đào tạo cán bộ các cấp để có thể sử dụng và duy tŕ hệ thống này.

Có thể nói Nghị định 67 ra đời đă đánh dấu một bước chuyển biến trong quản lư môi trường nước ta. Để triển khai có hiệu quả những nội dung của Nghị định đ̣i hỏi các cấp, các ngành cũng như các đơn vị liên quan phải phối hợp thực hiện. Hy vọng rằng việc triển khai hệ thống quản lư tự động như trên sẽ góp phần đưa Nghị định 67 vào cuộc sống. Đó cũng là việc làm thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả quản lư môi trường nước ta.