Một kế hoạch hành động đối với các khu vực được bảovệ ở Ðông á

 

IUCN

Uỷ ban Ðông á về các Công viên quốc gia và các khu vực được bảo vệ (CNPPA)

 

7/1996

 Lời giới thiệu

Trong suốt lịch sử tồn tại lâu dài của mình, người dân Ðông á đã có ý thức sâu sắc về thiên nhiên cũng như sự cần thiết phải bảo vệ thiên nhiên. Nhận thức này thường xuất phát từ những giá trị thẩm mĩ hoặc giá trị tôn giáo của một vùng đất hoặc một sự vật nào đó và trên cơ sở đó, trải qua nhiều thế kỷ, thiên nhiên đã được bảo vệ một cách hữu hiệu.

Trong thời gian gần đây, những giá trị truyền thống này đã bị đặt dưới sức ép lớn. Trên khắp khu vực Ðông á, sự phát triển kinh tế nhanh chóng dẫn đến những thay đổi lớn chưa từng có trong lối sống của con người. Những thay đổi lớn, ví dụ như sự lớn mạnh của Nhật Bản - một cường quốc công nghiệp hiện nay, cũng đã dẫn đến những thay đổi lớn về lối sống.

Kết quả là, hầu như trên toàn bộ khu vực Ðông á, thiên nhiên bị đặt dưới những áp lực lớn và các tài nguyên đa dạng sinh học quý giá đã và đang có nguy cơ bị mất đi. Xã hội thường đối phó với tình trạng trên bằng cách xây dựng những khu bảo tồn, đặc biệt là các khu bảo tồn chuyên bảo vệ đa dạng sinh học cũng như các tài sản tự nhiên và văn hóa khác. Các khu vực này được gọi bằng nhiều tên như công viên quốc gia, công viên khu vực, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc các khu danh lam thắng cảnh được bảo vệ, nhưng chúng đều thuộc một phạm trù chung, đó là "các khu vực được bảo vệ". IUCN đã chia các khu vực được bảo vệ làm 6 hạng mục để quản lý như sau (xem hình 1)

Hình 1. Các khu vực được bảo vệ - Ðịnh nghĩa và 6 hạng mục quản lý

 

Thế nào là một khu vực được bảo vệ ?

"Một vùng đất liền và/hoặc biển chuyên biệt để bảo vệ đa dạng sinh học và các tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, được bảo vệ thông qua luật pháp hoặc các phương tiện hữu hiệu khác".

6 hạng mục quản lý của các khu vực được bảo vệ

Hạng mục I - Các khu bảo tồn thiên nhiên /khu bảo vệ động vật hoang dã nghiêm ngặt: chủ yếu dành cho mục đích khoa học hoặc bảo vệ động vật hoang dã.

Hạng mục II - Các công viên quốc gia: chủ yếu dành cho việc bảo vệ và tái tạo hệ sinh thái.

Hạng mục III - Các khu di tích tự nhiên: chủ yếu dành cho việc bảo tồn những loại sinh vật nhất định

Hạng mục IV - Các sinh cảnh /Các khu quản lý loài sinh vật: chủ yếu dành cho việc bảo tồn thông qua các hoạt động quản lý.

Hạng mục V - Các khu danh lam thắng cảnh biển/đất liền được bảo vệ: chủ yếu dành để bảo tồn và tái tạo khu danh lam thắng cảnh biển/đất liền.

Hạng mục VI - Các khu bảo tồn những tài nguyên được quản lý: chủ yếu dành để đảm bảo sử dụng lâu dài các hệ sinh thái tự nhiên.

Nguồn thông tin: Nghị quyết 19.4 của phiên họp thứ 19 của Ðại hồi đồng IUCN, Buenos Aires, 1/1994. Giải trình chi tiết trong IUCN (1994), "Chỉ dẫn về các hạng mục khu vực được bảo vệ" do CNPPA soạn thảo với sự giúp đỡ của WCMC và do IUCN ban hành.

Các khu vực được bảo vệ mang lại nhiều lợi ích: chúng có ý nghĩa sống còn trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và duy trì hoạt động của các hệ sinh thái. Ðồng thời, các khu vực được bảo vệ cũng mang lại những lợi ích kinh tế cơ bản giúp đảm bảo cuộc sống, thông qua việc bảo vệ các quá trình tự nhiên. Dưới đây là một số lợi ích được liệt kê ở hình 2.

Hình 2: Những lợi ích từ các khu vực được bảo vệ của Ðông á

* Bảo tồn các hệ sinh thái và đa dạng sinh học

* Tái tạo

* Ngăn ngừa sói mòn và rửa trôi

* Cung cấp nước sạch cho các đô thị

* Cung cấp không khí sạch

* Kiểm soát các sinh vật phá hại

* Bảo tồn các nguồn gen và cây thuốc

* Duy trì các tài nguyên có thể khai thác

* Phục hồi đất đai

* Duy trì các chu kỳ dinh dưỡng

 

Hiện nay ở Ðông á, các khu vực được bảo vệ chiếm 5,7% diện tích đất đai (xem bảng 1). Trong đó, tỷ lệ vùng nước ven bờ được bảo vệ rất thấp, diện tích biển được bảo vệ chủ yếu tập trung ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông và một diện tích nhỏ hơn ở Hàn Quốc và Ðài Loan. Hầu hết các khu vực trên chỉ mới được xếp vào danh sách khu vực được bảo vệ trong những năm gần đây (62,4% từ năm 1992).

Bảng 1: Mô hình các khu vực được bảo vệ ở Ðông á, theo phân loại của IUCN

Hạng mục

Số thứ tự

Diện tích (km2)

%

I

40

3.365

0,03

II

20

16.465

0,16

III

5

3.000

0,00

IV

645

562.692

5,16

V

137

38.321

0,35

VI

847

621.143

5,70

Mặc dù điều này cho thấy có nhiều tiến bộ nhưng hệ thống các khu vực được bảo vệ còn lâu mới đáp ứng được vai trò của chúng.

Trước hết, ở hầu hết các vùng thuộc Ðông á, các khu vực được bảo vệ có tổng diện tích quá nhỏ, bỏ sót nhiều quần thể động thực vật quan trọng. Các khu vực tự nhiên còn lại chưa được bảo vệ vẫn đang phải chịu nhiều sức ép đe dọa sự tồn tại của các động vật, thực vật cùng với sinh cảnh của chúng. Ðiều quan trọng hơn là những sức ép này làm giảm lượng tài nguyên cần cho công cuộc phát triển kinh tế - văn hóa một cách bền vững.

Ðiều thứ hai là nhiều khu vực được bảo vệ ở Ðông á đang bị phá hủy do chúng trở nên quá cô lập và rải rác. Ngoài ra còn có những sức ép do sự phát triển, khai thác tài nguyên, săn bắn trộm các loài động vật quý hiếm, ô nhiễm và nhiều tác động khác xuất phát từ sự phát triển kinh tế và bùng nổ dân số với tốc độ chưa từng thấy.

Thứ ba là việc mở rộng phạm vi cũng như mức độ bảo vệ đối với từng khu vực và sự đánh giá của công chúng đối với các khu vực được bảo vệ rất khác nhau giữa các vùng khác nhau của khu vực Ðông á. Trong đa số trường hợp, các khu vực được bảo vệ nằm dưới quyền quản lý của các cơ quan bảo tồn mới được xây dựng và của các nhà hoạch định chính sách vốn không dành cho các khu vực đó sự ưu tiên cần thiết.

Ðể duy trì được những giá trị của các khu vực được bảo vệ trước những tác động nói trên, các khu vực này cần được quản lý hiệu quả. Các cơ chế quản lý cần dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học sâu sắc và cần có sự hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương. Sự tham gia tích cực của phía chính quyền địa phương là điều kiện tối quan trọng để đảm bảo sự tồn tại và để đạt được những mục tiêu của các khu vực được bảo vệ.

Trên đây là những lí do khiến Uỷ ban về các công viên quốc gia và các khu vực được bảo vệ của IUCN (CNPPA) đã tiến hành soạn thảo kế hoạch hành động đối với các khu vực được bảo vệ ở Ðông á.

Mục tiêu của các Kế hoạch hành động ?

Kế hoạch hành động này nhằm vạch ra những hoạt động ưu tiên ở phạm vi khu vực nhằm đáp ứng những yêu cầu chính yếu về các khu vực được bảo vệ ở Ðông á để đảm bảo thiết lập một hệ thống khu vực được bảo vệ đầy đủ, hiệu quả, ở cả trên đất liền và trên biển.

Ðể đạt được mục tiêu đó, kế hoạch hành động này đưa ra một loạt các nhiệm vụ ưu tiên cần thiết cho việc mở rộng và cải taọ các khu vực được bảo vệ ở Ðông á. Tuy nhiên, còn rất lâu nữa mới có thể hoàn thiện chúng. Rõ ràng là cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng các vấn đề xung quanh các khu vực được bảo vệ ở Ðông á. Trong đó, cần đánh giá tính hợp lý của hệ thống các khu vực được bảo vệ, những vấn đề mà các khu vực đó gặp phải và vai trò quan trọng của các khu vực được bảo vệ trong việc hỗ trợ sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia và khu vực.

Một số vấn đề khu vực chỉ có thể được giải quyết bằng cách tăng cường hợp tác giữa các quốc gia. Kế hoạch này đặc biệt chú trọng đến việc xây dựng quan hệ hợp tác trong nội bộ khu vực nhằm tạo điều kiện cho các chuyên gia của mỗi nước được học tập kinh nghiệm từ các nước khác.

Kế hoạch này sẽ được triển khai như thế nào ?

Bước đầu là đảm bảo cho tất cả những ai cần đến kế hoạch này đều có một bản sao của kế hoạch đó. IUCN sẽ gửi các bản sao đến các quốc gia và các lãnh thổ trong khu vực, đến tất cả các đối tác, tất cả các cơ quan chịu trách nhiệm về các khu vực được bảo vệ cũng như các cơ quan chính phủ có liên quan ở Ðông á. Bản kế hoạch cũng sẽ được gửi đến các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên cứu, các vườn thực vật, vườn bách thú và các tổ chức hữu quan khác cũng như các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các cơ quan hỗ trợ tài chính, các tổ chức cho vay.

Bản kế hoạch hành động này được xây dựng nhằm hỗ trợ các quốc gia và lãnh thổ để phát triển các kế hoạch hành động đối với khu vực được bảo vệ của riêng họ. Bản kế hoạch cũng giúp các quốc gia và lãnh thổ nói trên xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học. Cả các quy hoạch lẫn các hệ thống khu vực được bảo vệ đều cần phải được triển khai theo công ước về đa dạng sinh học (xem 6.2.1).

Các kế hoạch được xây dựng như thế nào ?

Kế hoạch hành động này được triển khai ở tất cả các vùng thuộc Ðông á. Việc xây dựng kế hoạch trên cơ sở những thông tin tư liệu sẵn có, ví dụ như "Báo cáo về các khu vực được bảo vệ ở Ðông á" được trình bày tại Hội nghị thế giới lần thứ 4 về các công viên quốc gia và các khu vực được bảo vệ (Caracas, Venezuela, 1992). Bản kế hoạch hành động này cũng bổ sung cho những sáng kiến khu vực trước đây của Ðông á, ví dụ như chương trình Biển khu vực của UNEP và chương trình môi trường Bắc á do uỷ ban kinh tế xã hội Châu á - Thái Bình Dương (ESCAP) của Liên hiệp quốc phối hợp.

Mặc dù, CNPPA chịu trách nhiệm chuẩn bị cho kế hoạch nhưng kế hoạch này vẫn thuộc về các nước, các lãnh thổ và người dân ở Ðông á. Ðể đạt được mục tiêu đó, IUCN đã và đang thu thập ý kiến đóng góp từ tất cả những người có liên quan. Quá trình thu thập ý kiến do Ban chỉ đạo CNPPA của Ðông á hướng dẫn.

Bản dự thảo đầu tiên của Kế hoạch hành động Châu á do William Keeton - một chuyên gia của IUCN - phối hợp với Dr. Wang Xianpu - Phó chủ tịch CNPPA Ðông á (1993- 1996) và những cộng sự khác xây dựng. Ban tổ chức của Trung Quốc đã dịch bản thảo sang tiếng Trung Quốc. Tháng 6/1993, IUCN đã gửi tài liệu này cho:

- Tất cả các tổ chức thành viên của IUCN ở Ðông á

- Tất cả các tổ chức thành viên của IUCN có quan tâm đến khu vực Ðông á

- Tất cả các thành viên Uỷ ban về sự tồn tại của các loài sinh vật của IUCN ở Ðông á.

- Tất cả các cơ quan quản lý các khu vực được bảo vệ ở Ðông á

- Tất cả các đại biểu tham gia Hội nghị lần thứ nhất về các công viên quốc gia và các khu vực được bảo vệ ở Ðông á và phiên họp lần thứ 41 của CNPPA về vấn đề Ðông á (Bắc Kinh, 9/1993).

Tại phiên họp này, một bản dự thảo có sửa đổi đã được đưa ra để các đại biểu thảo luận, xây dựng kế hoạch và thống nhất về thời gian và cách thức hoàn thành. Các tài liệu của cuộc họp do Giáo sư Wang Xianpu, Viện Thực vật học Academia Sinica, Bắc Kinh, Trung Quốc chịu trách nhiệm phân phát.

Sau đó, một bản dự thảo mới đã được soạn thảo trên cơ sở kết hợp những ý kiến và đề nghị của các đại biểu và các nhóm công tác tham gia Hội nghị cũng như ý kiến đóng góp của các thành viên Ban chỉ đạo và nhiều người khác. Sau đó, Hugh Synge, một chuyên gia tư vấn đã biên tập lại và soạn ra một bản dự thảo mới, với sự hợp tác của các thành viên Ban chỉ đạo. Bản dự thảo với nhiều sửa đổi này đã được Hội nghị lần thứ 2 về các công viên quốc gia và các khu vực được bảo vệ và Phiên họp thứ 49 của CNPPA (Kushiro, Nhật Bản, 7/1996) thông qua.

IUCN dự kiến sẽ xuất bản Bản kế hoạch này bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, kể cả tiếng Nhật, tiếng Trung quốc và tiếng Hàn Quốc.

Bản kế hoạch hành động liên quan đến những quốc gia và lãnh thổ nào ?

Các quốc gia và lãnh thổ được nêu trong bản kế hoạch bao gồm:

- Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều tiên (Bắc Triều Tiên)

- Nhật Bản

- Mông Cổ

- Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

- Cộng hòa Triều Tiên (Hàn Quốc)

- Ðài Loan

- Hồng Kông

- Ma Cao

Trong phần dưới đây, chúng tôi sẽ sử dụng các tên viết tắt (trong ngoặc đơn) thay cho tên đầy đủ.

2. Phối hợp vấn đề về các khu vực được bảo vệ với các vấn đề khác

2.1. Quy hoạch

Ðông á, các quần thể động thực vật ngày càng trở nên cô lập. Ví dụ như ở Trung Quốc, hầu hết các vùng đất được bảo vệ bị bao quanh bằng các vùng đất canh tác. Ðiều này làm cho chúng nhạy cảm hơn trước các nguy cơ bên ngoài như việc chuyển đất canh tác thành nhà ở, dẫn đến sự thoái hóa hệ sinh thái, ví dụ như hiện tượng xâm thực của các sinh vật ngoại lai và hiện tượng tràn lan của các động vật hoang dã.

Những vấn đề nói trên chỉ có thể được giải quyết tốt nhất bằng cách quản lý các khu vực được bảo vệ như một phần của các sinh cảnh hoang dã, nhờ đó sẽ giảm được những tác động của tình trạng cô lập và rải rác đối với hệ sinh thái. Biện pháp này còn giúp hạn chế được các nguy cơ ngoại cảnh như hiện tượng xâm chiếm rừng làm đất trồng trọt hoặc chăn nuôi, chặt phá rừng làm củi đốt, săn bắn động vật.

2.1.1. Ðưa các khu vực được bảo vệ vào quy hoạch phát triển quốc gia

mỗi nước và lãnh thổ, việc bảo vệ môi trường nói chung và quản lý các khu vực được bảo vệ nói riêng cần phải được đưa vào quy hoạch phát triển quốc gia.

Ðặc biệt có 2 đề xuất sau:

a) Trung Quốc cần phát triển thêm Uỷ ban Quy hoạch quốc gia bằng cách tăng cường chuyên môn về các khu vực được bảo vệ và dứt khoát công nhận các khu vực đó trong phạm vi Hội đồng Ða dạng sinh học quốc gia.

b) Hàn Quốc cần đưa quy hoạch các khu vực được bảo vệ vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và kế hoạch phát triển lâm nghiệp 10 năm của mình. Trong phần 7.1.2, bản kế hoạch yêu cầu mỗi nước tự xây dựng Quy hoạch hệ thống các khu vực được bảo vệ của riêng quốc gia mình. Trong bản quy hoạch hệ thống đó, cần đặt vấn đề các khu vực được bảo vệ trong số các ưu tiên phát triển của quốc gia và lãnh thổ, tạo điều kiện để đưa quy hoạch các khu vực được bảo vệ vào quy hoạch phát triển quốc gia.

2.1.2. Phát triển toàn diện quy hoạch sử dụng đất và đưa vấn đề các khu vực được bảo vệ vào quy hoạch đó

Sự tồn tại lâu dài của các khu vực được bảo vệ phụ thuộc vào các hệ thống quy hoạch sử dụng đất nhằm đảm bảo rằng việc phát triển cơ sở vật chất như xây dựng đường sá, nhà ở và các cơ sở hạ tầng khác không diễn ra tùy hứng hoặc tùy theo sự chi phối của thị trường mà theo quy hoạch và phù hợp với những lợi ích lâu dài của cả quốc gia.

Việc quy hoạch và quản lý các khu vực được bảo vệ cần phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch sử dụng đất. Ðiều này đảm bảo rằng những kế hoạch phát triển lớn không diễn ra ở gần các khu vực được bảo vệ, dẫn đến sự chuyển đổi từ các khu vực tự nhiên thành các đô thị.

Quy hoạch hệ thống cho các khu vực được bảo vệ (7.1.2) giữ một vai trò quan trọng trong việc thực hiện những mục tiêu nêu trên, trong đó cần chú ý tới việc kết hợp quy hoạch các khu vực được bảo vệ với các quy hoạch khác.

2.1.3. Triển khai các hệ thống khoanh vùng đối với cả các khu vực được bảo vệ lẫn các vùng phụ cận

Các cơ quan quy hoạch cần phát triển những hệ thống khoanh vùng sao cho ít gây ảnh hưởng đến các khu vực được bảo vệ và/hoặc các ảnh hưởng đó có thể kiểm soát được. Những hoạt động khoanh vùng có thể bao gồm xây dựng, khai thác mỏ, khai thác gỗ, săn bắn, đánh bắt cá, nông nghiệp và dịch vụ. Các hệ thống khoanh vùng cần được thiết kế sao cho đảm bảo được sự phát triển bền vững và đảm bảo có vùng đệm cũng như mức độ bảo vệ sinh cảnh phù hợp nhằm ngăn ngừa hiện tượng thoái hóa hệ sinh thái của các khu vực được bảo vệ do tình trạng cô lập và ô nhiễm.

Việc triển khai các hệ thống khoanh vùng cần được hỗ trợ bằng các dự án trình diễn và các chỉ dẫn. Những bài học rút ra sau đó sẽ có thể được sử dụng để phát triển các luật và quy định về khoanh vùng đất ở cả cấp quốc gia và cấp khu vực.

 

2.1.4. Thực hiện quy trình Ðánh giá tác động môi trường (EIA)

Các chính phủ cần phải:

a) Xây dựng một khuôn khổ luật pháp trong đó yêu cầu tất cả các dự án phát triển mới đều phải tiến hành đánh giá tác động môi trường.

b) Có các cơ chế chính thức giúp đánh giá kết quả và những đề xuất của các báo cáo đánh giá tác động môi trường đồng thời phê chuẩn, đình chỉ hoặc cải chính các đề xuất phát triển và kiểm tra các kết quả.

Ðánh giá tác động môi trường cần bao gồm cả đánh giá những tác động đối với các khu vực được bảo vệ. Các cơ quan chịu trách nhiệm về các khu vực được bảo vệ cần hướng dẫn và huấn luyện nhân viên của mình về cách thức tham gia đánh giá tác động môi trường và đảm bảo rằng những vấn đề của các khu vực được bảo vệ giành được sự quan tâm đúng đắn.

2.1.5. Cố gắng hướng công chúng tham gia vào quá trình quy hoạch

Sự tham gia của quần chúng vào quá trình triển khai các kế hoạch liên quan đến khu vực của họ thường rất có lợi. Ðiều này đảm bảo rằng các kế hoạch đó có tính toán đầy đủ đến các hoạt động hiện tại và được cộng đồng địa phương chấp nhận.

 

2.2. Nông nghiệp và lâm nghiệp

Giống như ở những nơi khác trên thế giới, nông nghiệp và lâm nghiệp có ảnh hưởng lớn tới các khu vực được bảo vệ bởi vì chúng là những hoạt động khai thác đất đai chủ yếu trên thế giới.

Nông nghiệp và lâm nghiệp không chỉ là những hoạt động sử dụng nhều đất đai mà chúng còn có những ảnh hưởng lớn tới các hoạt động khác ở nông thôn. Ngoài ra, đất canh tác và các khu rừng được quản lý còn có giá trị bảo tồn đối với bản thân chúng, đặc biệt là khi chúng liên quan đến những hoạt động lâu đời cho phép duy trì khoảng không gian cho thiên nhiên.

Tuy nhiên, các hoạt động nông nghiệp và lâm nghiệp hiện đại có xu hướng gây hại cho thiên nhiên hơn là các hoạt động truyền thống trước đây. Ðiều đó dẫn đến tăng nhu cầu về các khu vực được bảo vệ nhằm tạo ra những nơi cư trú cho các loài động thực vật đang bị đe dọa, tạo điều kiện để xem xét lại các chính sách nông nghiệp và lâm nghiệp, không chỉ về mặt năng suất sản lượng mà còn về mặt môi trường và kinh tế nông thôn.

2.2.1. Tăng cường các hình thức sản xuất nông nghiệp bền vững theo hướng có lợi cho môi trường

a) Khôi phục lại các vùng đất canh tác vốn đã bị cấm ở xung quanh các khu vực được bảo vệ

b) Hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu và các thuốc bảo vệ thực vật khác, đặc biệt là ở xung quanh các khu vực được bảo vệ

c) Khuyến khích các nghiên cứu nhằm tìm ra những phương pháp sử dụng các khu đất phụ cận một cách lâu bền (một trong những khu vực ưu tiên là cao nguyên Quinghai Xizang (Tibet) - (Xem hình 3)

Hình 3. Cao nguyên Quinghai- Xizang (Tibet)

Cao nguyên Quinghai- Xizang (Tibet) của Trung Quốc _- "Nóc nhà của thế giới" chiếm khoảng 1/6 diện tích đất đai của Ðông á. Khu vực đồng cỏ và hệ sinh thái cây bụi này có tài nguyên sinh học rất phong phú và đa dạng. Các loài sinh vật đặc hữu của khu vực này gồm có bò hoang Tây Tạng (Bos mutus); linh dương Tibet (Pantholops hodgsoni); lừa Tibet (Equus hemionus) và linh dương gazel (Gazella picticaudata).

Ðã từ nhiều thế kỷ nay, những người bản xứ ở Quinghai- Xizang (Tibet) đã nuôi trồng các loài tương hợp với môi trường sống của họ. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, các dự án chăn nuôi quy mô lớn đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng và khó khắc phục đối với hệ sinh thái. Những đồng cỏ ở khu vực thường không được các cơ quan chính phủ quan tâm vì họ chỉ lo thiết lập các khu vực được bảo vệ. Do đó, cao nguyên Quinghai- Xizang hầu như không được bảo vệ chu đáo.

Tình trạng thiếu các khu vực được bảo vệ cho thấy các cơ quan chính phủ cần phải tăng cường xây dựng các khu vực mới. Trong một số trường hợp, điều này đòi hỏi phải có những quy định luật pháp quốc gia hoặc các cuộc thảo luận, hội đàm giữa các cơ quan chính phủ.

2.2.2. Ðảm bảo rằng các hoạt động lâm nghiệp đều chú ý đến việc bảo vệ thiên nhiên

2.3. Du lịch

Hoạt động du lịch diễn ra ở các khu vực được bảo vệ nếu không được kiểm soát chặt chẽ có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực. Trong khi đó, chúng lại có thể mang lại những lợi ích kinh tế lâu dài. Ví dụ như từ năm 1980 đến năm 1985, công viên Rừng Quốc gia Zhangjiaju ở Hunan, Trung Quốc đã đem lại 7.396.000 NDT từ nguồn thu du lịch, bằng 94% chi tiêu của chính phủ cho khu vực đó ở cùng thời điểm. Theo Trung tâm quản lý Bảo tồn thế giới, hàng năm Mông Cổ thu 500.000 USD từ việc tổ chức săn bắn cho khách du lịch tại các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia.

Ðặc biệt, hoạt động du lịch lữ hành mang lại một nguồn thu đáng kể cho các khu bảo tồn cao nguyên của Trung Quốc cũng như nhiều nước và lãnh thổ khác ở Ðông á, người Triều Tiên, người Nhật và người dân các nước Ðông á khác đang trông chờ các cơ hội du lịch ở nước ngoài và họ đều là những người đi bộ rất giỏi. Do đó, các khu bảo tồn cao nguyên của Ðông á như Mông Cổ, Ðài Loan và một số vùng ở Trung Quốc như Xinjiang, Sichuan và Xizang (Tibet) đang là những nơi thu hút khách du lịch.

Tuy nhiên, hoạt động du lịch lữ hành cần phải được quản lý một cách thận trọng nhằm giảm bớt những tác động đối với môi trường. Ngoài ra, hình thức du lịch này đang bị hạn chế do lượng người quá đông và điều này có thể ảnh hưởng đến các nền văn hóa địa phương. Ðiều quan trọng là cần dành một tỷ lệ thích hợp doanh thu từ dịch vụ du lịch để đầu tư cho các khu bảo tồn và các cộng đồng địa phương.

Nói chung, các nhà quản lý công viên quốc gia cần chào đón khách du lịch như những người đóng góp để hỗ trợ cho việc bảo vệ các khu bảo tồn. Tuy nhiên, cần chú ý để đảm bảo rằng các khách du lịch không làm thiệt hại cho những tài nguyên mà họ đến tham quan. Ðiều này đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ và cân đối giữa các mục tiêu.

2.3.1. Xây dựng và triển khai những chiến lược quốc gia về du lịch bền vững

Những chiến lược này cần chỉ rõ những cơ hội du lịch sinh thái, những tài sản cần được hỗ trợ, những chiến dịch cần được tăng cường và vạch ra những đường lối chính sách để đảm bảo rằng ngành du lịch có ý thức đầy đủ về mặt sinh thái.

2.3.2. Khuyến khích hợp tác và trợ giúp giữa các quốc gia và lãnh thổ để phát triển và quản lý du lịch

Dự án ưu tiên số 1: Phát triển các nguyên tắc về du lịch sinh thái và các khu vực được bảo vệ của khu vực Ðông á. Một mô hình kiểu mẫu của các nguyên tắc đó là bản báo cáo "Chúng tôi yêu quý chúng đến tận lúc chết" do các nhà quản lý công việc quốc gia Châu Âu, thuộc Hiệp hội các công viên thiên nhiên quốc gia Châu Âu (FNNPE) xây dựng.

2.3.3. Xây dựng một tổ chức phi chính phủ ở mỗi quốc gia hoặc lãnh thổ hoặc uỷ quyền cho một tổ chức sẵn có để kiểm soát các nghiên cứu về du lịch sinh thái và phát triển du lịch ở các khu vực được bảo vệ.

Một ví dụ điển hình cho mô hình này là Hiệp hội công viên quốc gia của Hàn Quốc. Hiệp hội này chịu trách nhiệm phát triển và nghiên cứu về ngành du lịch của Hàn Quốc.

2.3.4. Cơ cấu du lịch sinh thái ở mỗi nước và lãnh thổ

Hình 4 cho thấy một số điểm chính. Cần chú ý tránh tình trạng phát triển thái quá dưới chiêu bài "phát triển du lịch". Ví dụ như các chính phủ có thể đặt ra một cơ cấu du lịch sinh thái để thu của khách hàng một khoản lợi phí khi họ đi thăm quan một khu vực được bảo vệ và sau đó sử dụng khoản tiền này để phục vụ cho công tác quản lý các khu vực được bảo vệ đó. Số tiền lệ phí nói trên được sử dụng dể chi trả cho tất cả các hoạt động quản lý khu vực được bảo vệ, ví dụ như xây dựng cơ sở vật chất, thiết lập hệ thống điều trị và cấp cứu, bảo dưỡng đường sá, hướng dẫn khách du lịch...

Hình 4. Một số gợi ý để phát triển cơ cấu du lịch sinh thái

Cơ cấu du lịch sinh thái phải bao gồm:

ã         Tăng cường nỗ lực để bảo vệ lợi ích của địa phương bằng cách tham gia vào các dự án bảo tồn khu vực.

ã         Tôn trọng nền văn hóa của địa phương

ã         Sử dụng các tài nguyên thiên nhiên (ví dụ: nước, năng lượng...) một cách có hiệu quả

ã         Ðảm bảo hạn chế tối đa những tác động của rác thải đối với môi trường và thẩm mỹ.

ã         Tận dụng các hình thức marketting (ví dụ: cataloge) để giúp nâng cao nhận thức về môi trường.

ã         Sử dụng những hướng dẫn viên du lịch có hiểu biết sâu sắc về văn hoá, điều kiện sống và lịch sử tự nhiên của địa phương.

ã         Mua những sản phẩm được sản xuất tại địa phương và có lợi cho cộng đồng địa phương nhưng không mua những hàng hóa được sản xuất từ những loài sinh vật đang bị đe dọa.

ã         Tìm hiểu những nội quy và nguyên tắc của các khu vực được bảo vệ.

ã         Hạn chế xe ở một số con đường nhất định.

ã         Giữ khoảng cách thích hợp đối với các loài động vật

 

Nguồn thông tin: trích từ Cẩm nang của Hiệp hội du lịch sinh thái úc

 

2.3.5. Sử dụng một phần lợi nhuận từ các hoạt động du lịch để phục vụ cho cộng đồng địa phương và cho các khu vực được bảo vệ

Ðầu tư một phần lợi nhuận cho cộng đồng địa phương, đặc biệt là ở những nơi mà việc tiếp cận với tài nguyên thiên nhiên ở khu vực được bảo vệ bị hạn chế hoặc ở những nơi mà cộng đồng địa phương đang phải chịu ảnh hưởng nhiều mặt của các hoạt động du lịch (ví dụ: đường sá bị xuống cấp, lối sống truyền thống bị phá vỡ...)

Lợi nhuận từ du lịch còn có thể được sử dụng để hỗ trợ cho các khu vực được bảo vệ và cho các hoạt động môi trường. Ðặc biệt, số lợi nhuận đó còn có thể được sử dụng để phát triển những nghiên cứu về tác động và những chiến lược liên quan đến du lịch sinh thái. (xem hình 5).

Hình 5. Công tác chuẩn bị cho việc thiết lập một khu vực được bảo vệ

a) Khu vực cần có địa vị pháp lý thích hợp sao cho phù hợp với một trong những tiêu chí phân loại khu vực được bảo vệ. Tiêu chí đó sẽ quyết định hướng quy họach tiếp theo thông qua những mục tiêu toàn diện.

b) Trước khi mở cửa khu vực được bảo vệ để đón khách du lịch, cần có một bộ phận quản lý chuyên nghiệp.

c) Cần soạn thảo và đưa ra một kế hoạch quản lý, trong đó nêu rõ những tác động tiêu cực của du lịch, sức chứa của khu vực (số lượng khách du lịch có thể đón tiếp và những cơ hội khôi phục).

d) Một quy trình chính thức có thể giúp các cán bộ quản lý các khu vực được bảo vệ xem xét những đề xuất về các hoạt động du lịch sinh thái, từ đó, đảm bảo rằng những đề xuất nói trên không gây hại cho các khu vực đó.

 

 

 

2.4. Ô nhiễm

2.4.1. Hạn chế ô nhiễm tại nguồn

Bản kế hoạch ủng hộ tất cả các sáng kiến nhằm kiểm soát ô nhiễm tại nguồn, cho dù là ở cấp địa phương, cấp quốc gia hay quốc tế. Các chính phủ cần phải phối hợp tham gia hạn chế ô nhiễm.

2.4.2. Kiếm soát ô nhiễm ở các khu vực được bảo vệ

Cần có thêm những nỗ lực quốc tế nhằm kiểm soát tình trạng ô nhiễm ở các khu vực được bảo vệ. (Xem phàn 5.2.2. về vấn đề đổ rác thải ra biển).

Một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với các khu vực được bảo vệ ở Ðông á là ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm không khí, mưa acid và hiện tượng thay đổi khí hậu có thể có ảnh hưởng lớn tức thời đến các hệ sinh thái. Ví dụ như ở một số vùng thuộc Trung Quốc, những diện tích rừng rộng lớn đã bị tàn phá do mua acid, đặc biệt là ở những vùng núi cao, nơi có nhiều cây cổ thụ lâu năm bị tàn phá. Người ta cho rằng hiện tượng mưa acid sẽ tiếp tục phát triển ở Trung Quốc do nước này phụ thuộc quá nhiều vào nguồn điện năng sản xuất từ than đá.

Các báo cáo về sự thiệt hại do mưa acid gây ra ở Nhật Bản cũng ngày càng nhiều. Hiện nay, Cục môi trường Nhật Bản đang xem xét các báo cáo về thiệt hại do mưa acid gây ra ở Công viên quốc gia Ooyama Quasi- Tanzawa

Các khu vực được bảo vệ ở Ðông á cũng bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm nông nghiệp. Ví dụ như ở Trung Quốc, tình trạng ô nhiễm do thuốc trừ sâu cũng như các loại chất thải công nghiệp đô thị đang lan rộng ở cả nông thôn và thành phố. Tình trạng sử dụng phân bón tràn lan và sự phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệp chăn nuôi đã làm ô nhiễm sông ngòi và các nguồn nước. Mặc dù các chính phủ đang rất nỗ lực để kiểm soát tình trạng ô nhiễm nước nhưng chất lượng nước mặt vẫn tiếp tục giảm sút.

Các vấn đề ô nhiễm xuất hiện ở các nước và lãnh thổ thuộc Ðông á đều tương tự nhau. Do đó, có thể thấy là các khu vực được bảo vệ ở Ðông á chỉ có thể thực hiện được những mục tiêu đề ra nếu chúng ta thành công hơn trong những nỗ lực nhằm kiểm soát tình trạng ô nhiễm nước và không khí.

Nguyên tắc "Ðiều hành và kiểm soát" không phải bao giờ cũng có hiệu quả. Do vậy, các biện pháp khuyến khích kinh tế có thể trở thành một biện pháp thay thế mới. Ví dụ như Ðài Loan đang xem xét việc thể chế hóa các loại thuế phát thải và giảm lãi suất cho vay để đầu tư vào các công nghệ kiểm soát ô nhiễm nước cùng với các biện pháp khuyến khích kinh tế khác nhằm cố gắng kiểm soát tình trạng ô nhiễm công nghiệp đang diễn ra trầm trọng. Trung Quốc đã áp dụng những hình thức ưu đãi về thuế đối với việc lắp đặt các thiết bị kiểm soát ô nhiễm công nghiệp.

Hình 12. Một số tiêu chí để xác định và lựa chọn những khu vực được bảo vệ

* Lợi ích kinh tế (ví dụ: để bảo vệ các vùng phân nước, kiểm soát côn trùng phá hoại nông nghiệp, phục vụ du lịch hoặc để quản lý chặt chẽ các nguồn tài nguyên mới khai thác).

* Ða dạng thủy sinh học (ví dụ các đặc điểm địa lý, đất, các vùng nước)

* Các sinh cảnh quan trọng (ví dụ các loài sinh vật quý hiếm hoặc đang bị đe dọa)

* Các thành phần của hệ sinh thái (ví dụ các vùng đất ngập mặn, các khu rừng nguyên sinh)

* Các đặc trưng (ví dụ loài và sinh cảnh đặc trưng)

* Ða dạng về loài và giá trị danh lam thắng cảnh

* Yêu cầu khẩn cấp

Ngoài ra, một hoặc một số tiềm năng dưới đây cũng có thể được đưa ra xem xét:

* Ðể phục vụ trưng bày và giáo dục

* Nghiên cứu và quan trắc

* Du lịch

* Phục hồi tái tạo

Những tiêu chí sau đây có thể giúp xác định khả năng quản lý một khu vực

* Sự chấp nhận của xã hội: khu vực đã từng được nhiều người dân địa phương bảo vệ và/hoặc địa phương chấp nhận hình thức bảo vệ chính thức.

* Có nhiều triển vọng: Các khu vực được bảo vệ sẵn có hoặc có điều kiện để có hình thức bảo vệ chặt chẽ hơn.

* Sẵn có

* Dễ tiếp cận.

5.1. Xây dựng một hệ thống các khu vực biển được bảo vệ

Các khu vực biển được bảo vệ thường không thể bảo vệ được toàn bộ các loài sinh vật biển. Do đó, cần ưu tiên cho việc bảo vệ những khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với những giai đoạn nhất định trong vòng đời của những loài sinh vật nhất định. Bước đầu tiên là xác định loài, nhóm loài và các giai đoạn cần đặc biệt chú ý trong vòng đời của loài đó.

Cho đến nay, hầu hết các khu vực biển được bảo vệ ở Ðông á đều có diện tích tương đối nhỏ. Tuy nhiên, một giải pháp ưu việt hơn, cho phép bao quát được toàn bộ các loài sinh vật dưới biển là phát triển các cơ chế quản lý đa phương đối với các "hệ sinh thái biển lớn" có diện tích từ 200000 km2 trở lên và có những đặc tính độc đáo. Bằng cách bao quanh cả một tổng thể, giải pháp này giúp quản lý được toàn bộ các loài, con mồi của chúng, các loài săn đuổi chúng và những yếu tố vật lý có ảnh hưởng tới sự tồn tại của chúng.

5.1.1. Thiết lập và đảm bảo một cơ chế quản lý hữu hiệu hệ thống các khu vực được bảo vệ ở Ðông á

Trung quốc, Nam và Bắc Triều Tiên cần đặc biệt xem xét các cơ hội để phát triển những hệ thống nhằm xây dựng và quản lý các khu vực biển được bảo vệ (xem hình 13). Gần đây, Hồng Kông đã thiết lập một số khu vực biển cần được bảo vệ.

Hình 13. Những mục tiêu của một hệ thống các khu vực biển được bảo vệ của quốc gia

ã         Bảo vệ những quần cư điển hình của các hệ thống biển

ã         Bảo vệ những loài và quần thể sinh vật quý hiếm, đang bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa và sinh cảnh của chúng

ã         Bảo vệ và quản lý những khu vực có ý nghĩa quan trọng đối với vòng đời của những loài sinh vật có ý nghĩa quan trọng cả về mặt kinh tế và sinh thái.

ã         Bảo vệ những vùng biển có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa và thẩm mỹ đối với các thế hệ hiện tại và tương lai.

ã         Bảo vệ các hệ thống biển để phục vụ cho công tác bảo tồn, giáo dục và du lịch.

ã         Phục vụ cho các hoạt động của con người phù hợp với các mục tiêu đạt đến sự phát triển bền vững về mặt sinh thái.

ã         Tạo điều kiện cho những nghiên cứu, huấn luyện và quan trắc những tác động của các hoạt động của con người đối với môi trường.

 

 

Tất cả chúng ta - 6

(tài liệu giáo dục môi trường)

(2/1994)

Các đô thị

(John Celecia, UNESCO, Phòng khoa học sinh thái)

Thập kỷ vừa qua đã chứng kiến một loạt những con số thống kê đáng báo động về tình hình tăng dân số trên thế giới và những thay đổi về chiều hướng phân bố của số dân đó. Rõ ràng là sự phát triển của các đô thị hiện tại và tương lai có một vai trò cực kỳ quan trọng. Trong thực tế, một số lượng lớn người đang tập trung về các thành phố lớn và vùng phụ cận, một nửa số dân thế giới hiện nay đang sống ở các đô thị.

Hiện tượng bùng nổ dân số ở các vùng đô thị xuất phát từ sự di dân từ khu vực nông thôn và từ sự tăng dân tự nhiên ở các thành phố. Mặc dù hiện nay, những xu hướng này đang có chiều hướng giảm đi nhưng đó không phải là lí do khiến chúng ta có thể hy vọng là tỷ lệ người dân từ vùng nông thôn đổ về thành thị sẽ giảm đi nhiều trong thế kỷ tới. Nhiều người cho rằng tình trạng nghèo đói ở nông thôn không tồi tệ bằng cuộc sống khốn khổ ở những khu nhà ổ chuột - nơi có gần 2/3 dân số của các nước thế giới thứ ba đang sinh sống. Sự thực là tình trạng ở cả 2 nơi đều kinh khủng như nhau, mặc dù ở nông thôn người ta khó nhận ra điều đó hơn.

Rõ ràng là tốc độ tăng trưởng có thể nhìn thấy trước của các thành phố trong những năm tới sẽ gây ra nhiều và vấn đề lớn cho việc quy hoạch và quản lý các đô thị. Sự tăng trưởng này đã, đang và sẽ có ẩnh hưởng đáng kể tới chất lượng cuộc sống ở các thành phố, nếu xét về mặt xã hội và sự ổn định chính trị. Ngoài ra, còn có một nguy cơ là sẽ đến một lúc nào đó vùng nông thôn không thể cung cấp cho các thành phố năng lượng, nguyên liệu, nhân công và đặc biệt là nước, lương thực thực phẩm và các thứ cần thiết khác.

Kinh nghiệm cho thấy, chúng ta cần lựa chọn những biện pháp phối hợp trong đó đặc biệt chú trọng tới sinh thái, kinh tế xã hội và phát triển bền vững. Những biện pháp này cần tính đến sự khác nhau về giai đoạn phát triển, sự khác nhau về văn hóa cũng như những cơ chế khác nhau của chính phủ để đối phó với những vấn đề mơ hồ như hiện nay. Chúng ta cần tìm hiểu để thấy được mối tương tác qua lại giữa các hệ thống đô thị với nhau và giữa chúng với các vùng phụ cận. Ðồng thời, chúng ta cần có một tầm nhìn xa thay vì những giải pháp tạm thời. Ðó chính là mục tiêu trước mắt của các tổ chức và chương trình quốc tế.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hướng về một thành phố giàu tài nguyên

(John Celecia, UNESCO- Phòng khoa học sinh thái)

Các đô thị giống như những hệ sinh thái

Xét trên quan điểm sinh thái học, một thành phố cũng giống như những hê sinh thái khác, có cấu trúc và chức năng đặc trưng, với những yếu tố sinh vật và phi sinh vật, với chu kỳ chuyển đổi và quay vòng năng lượng và vật chất. ở đó cũng có một tổ chức không gian riêng biệt và những biến đổi theo thời gian có thể ảnh hưởng đến các mô hình hành vi cư xử, đến sự phân bố các loài, đến hoạt động của các cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, nhìn chung vẫn có những nét đặc trưng nhất định, làm nên tính độc đáo của một hệ sinh thái đô thị. Có thể tóm tắt chúng như sau:

ã         Ðó là một hệ thống mở đặc biệt, nếu xét về dòng chảy, sự tương tác, sự traô đổi, đặc biệt là trong mối quan hệ với các hệ sinh thái khác.

ã         Xét trên quan điểm xã hội và dân cư, hệ sinh thái đô thị tạo ra một lượng lớn thông tin, tri thức, sáng kiến, văn hóa, công nghệ, công nghiệp và có thể áp dụng chúng cho những hệ sinh thái khác.

ã         Xét trên quan điểm sinh học, hệ sinh thái đô thị thuộc loại hệ phi sản xuất và do đó chúng phụ thuộc rất nhiều vào các vùng phụ cận.

Các hê sinh thái đô thị thường tiêu thụ rất nhiều năng lượng. Thêm vào đó, nhu cầu năng lượng của một thành phố tăng lên nhanh chóng khi máy móc được dùng thay thế cho sức lao động của con người, dẫn đến tăng lượng vật chất cần thiết, đặc biệt là nước.

ã         Bên cạnh đó, các hệ thống đô thị tạo ra một lượng chất thải khổng lồ, buộc các vùng phụ cận - nơi vốn đã phải chịu hậu quả của tình trạng khan hiếm năng lượng và nguyên liệu - phải hứng chịu. Do đó, hệ sinh thái đô thị gây ra những tác động nghiêm trọng đối với môi trường sống của con người và phạm vi ảnh hưởng cuả chúng bao gồm từ những vùng ngoại ô liền kề đến những khu vực cách xa hàng nghìn km.

ã         Sự phát triển của các đô thị thường kéo theo những thay đổi lớn về tình hình sở hữu và sử dụng đất đai. Những thay đổi này mâu thuẫn lẫn nhau và có ý nghĩa nhất định về mặt kinh tế cũng như những tác động đối với môi trường và tình hình kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở các vùng nông thôn và những khu vực được bảo vệ.

ã         Sự phụ thuộc và mô hình cung - cầu nói trên khiến cho các hệ thống đô thị, đặc biệt là các thành phố lớn trở nên bất ổn định và dễ bị ảnh hưởng nếu xét trên quan điểm kinh tế -xã hội và môi trường.

ã         Ðặc điểm nổi bật nhất của hệ sinh thái đô thị là khía cạnh con người bao gồm tất cả các mặt như văn hóa, xã hội, tâm lý, kinh tế, chính trị - xã hội... Ðặc biệt, khía cạnh con người bao gồm nhiều điểm mơ hồ, khó định nghĩa và càng khó định lượng. Ví dụ như: tính sáng tạo, ý thức an ninh, sự hài lòng với công việc, mục tiêu phấn đấu, thẩm mĩ... Nếu chúng ta không để ý đến những khía cạnh liên quan mật thiết với chất lượng môi trường cũng như chất lượng cuộc sống đó thì chúng ta có thể sẽ mắc phải những sai lầm dẫn đến việc quy hoạch và quản lý lệch hướng.

Cần nỗ lực nhằm nâng cao tính hợp lý và hiệu quả của các khu đô thị, giảm thiểu những tác động của chúng đối với các vùng phụ cận xung quanh. Hơn nữa, chúng ta cần luôn luôn nhớ rằng đô thị là hệ sinh thái của con người, do con người tạo ra để phục vụ chính họ.

Châu Mỹ La tinh: Lục địa của các đô thị khổng lồ

Theo ước tính, chỉ trong vòng vài năm nữa, dân số ở các đô thị của Mỹ La tinh sẽ bằng hoặc lớn hơn dân số của các nước công nghiệp hiện nay. Hồi đầu thế kỷ, một số cảng biển như Buenos Aires, Montevideo và Rio de Janeiro trải qua một thời kỳ tăng trưởng nhanh chóng - kết quả của sự phát triển kinh tế tập trung cộng với phong trào di dân. Ðến tận cuối thế kỷ này, các thành phố khác ở Mỹ La tinh lại đối mặt với sự bùng nổ dân số và đô thị hóa nhanh chóng. Kết quả là những đô thị khổng lồ của Mỹ Latinh đã dẫn đầu danh sách những thành phố lớn nhất trên thế giới (ví dụ như Mexico City, Sao Paulo, Buenos Aires). Sự bùng nổ này góp phần làm tăng tình trạng khủng hoảng về quy hoạch và quản lý vấn đang rất trầm trọng hiện nay.