Cục bảo
vệ môi trường Thụy điển
các xí nghiệp sản xuất và Chế biến sữa
Các xí nghiệp sản xuất và chế biến sữa
Ðiều 31.03.01 B, 31.03.02 C
và 31.04 C của sắc lệnh bảo vệ môi trường (1989:364)
Các vấn đề về môi trường
Các vấn đề về môi trường nảy sinh từ ngành sản xuất và
chế biến sữa, chủ yếu xoay quanh về vấn đề nước thải. Các
vấn đề khác do nguyên nhân phát thải
vào không khí, tiếng ồn và phế thải gây ra.
Nước Nước
thải chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, chất tẩy rửa thừa và các chất sát khuẩn. Do đó pH có thể dao động rất
nhiều.
Không khí Các
chất thải và vào không khí bao gồm chất đặc biệt từ khâu sản xuất sữa khô và chất khí có mùi từ các dây chuyền sản xuất
đặc biệt có sử dụng cacao. Ngoài ra, còn
có thể rò rỉ các chất làm lạnh.
Tiếng ồn Tiếng
ồn chủ yếu phát sinh từ quạt thông gió, thiết bị lạnh và từ khâu vận chuyển hàng hoá.
Phế thải Phế
thải bao gồm một phần lớn chất hưu cơ, sản phẩm phụ từ quá trình sản xuất, sản phẩm quay vòng, nguyên liệu thô loại
bỏ và 1 lượng lớn đồ bao gói thừa cũng như
chất thải độc hại như dầu tràn từ máy móc và các phương tiện vận chuyển.
Vị trí Khoảng
cách cần thiết với khu dân cư là 200-400m đối với cơ sở sản xuất sữa và sữa bột, 150-400 m đối với cơ sở sản
xuất các sản phẩm từ sữa.
Quy trình, nguyên liệu, hoá chất
Sản xuất sữa và kem
Quy
trình Tinh chế/ tách - Tiêu chuẩn hoá độ béo (xử
lý sao cho phần kem không bị tách ra khỏi sữa ) - Tiệt khuẩn theo phương pháp
Pasteur - (ủ lên men) - làm lạnh - đóng gói.
Nguyên
liệu Sữa, men sữa chua, vitamin, trái cây bảo
quản
Sản xuất pho mát
Quy
trình Tách/Tinh chế - Tiêu chuẩn hoá độ béo - Xử
lý bằng nhiệt độ - lên men - làm đông đặc - cắt - khuấy - đun nóng - thêm muối
- đổ khuôn - ép khuôn - xử lý qua nước muối - bao bằng màng chất dẻo
Nguyên
liệu Sữa, men sữa chua, muối.
Sản xuất bơ
Quy
trình Tách/Tinh chế - Tiêu chuẩn hoá độ béo -
Tiệt khuẩy bằng phương pháp Pasteur - lên men - tạo bơ - đóng gói.
Nguyên
liệu Sữa, men sữa chua, muối.
Sản xuất sữa bột
Quy
trình Tách/Tinh chế - Tiêu chuẩn hoá độ béo -
Tiệt trùng bằng phương pháp Pastuer - bốc hơi nước - làm khô/nghiền - hoặc là
dùng phương pháp làm khô bằng cách phun hoặc là làm khô trực tiếp - đóng gói.
Nguyên
liệu Sữa.
Các hoá chất (dùng chung cho mọi
quy trình )
Các chất tẩy rửa (ví dụ Acid nitric,
lye), chất sát khuẩn (ví dụ perocid hydro, acid acetic, Natrihypochlorid), các
chất để trung hoà ( acid sulfuric, acid nitric), các chất làm lạnh (CFC,
amoniac), các sản phẩm dầu khoáng.
Công nghệ môi trường
Nước
Cần
có Ðiều chỉnh pH và điều hoà dòng chảy nước
thải để tiếp tục được xử lý ở nhà máy nước thải địa phương.
Xử lý sơ bộ trước khi dẫn vào nhà
máy xử lý nước thải, chủ yếu là xử lý sinh học và tách chất béo đối với khu vực
sản xuất bơ và pho mat.
Phát
triển Tối ưu hoá quá trình sản xuất nhằm giảm lượng
chất thải.
Không khí
Các chất thải đặc biệt phát sinh từ
quá trình sản xuất sữa bột được xử lý bằng túi lọc bụi hoặc máy lọc.
Chất thải
Thu gom ở bãi rác thải hoặc thiêu
huỷ ở bãi rác thải rắn. ép bao bì đóng gói thừa trước khi đổ đi. Các dư phẩm được
sử dụng trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Chế biến dư phẩm thành các sản phẩm
phụ phục vụ cho con người. Giảm thiểu lượng phế thải và tái sinh bao bì đóng
gói dư thừa.
Ðiều
kiện đổ chất thải
Nước
Số lượng các chất gây ô nhiễm được quy định theo những
giới hạn cụ thể, được đánh giá trên cơ sở hàng năm và thường được quy định cho
các trường hợp đưa chất thải đến nhà máy nước thải địa phương. Tuy nhiên, những
điều kiện cụ thể ở địa phương có thể ảnh hưởng tới khả năng đạt các giá trị quy
định đó. Nước thải ra cần có pH =6,5. Giới hạn trên của pH cần phải phù hợp với
điều kiện của địa phương.
Lượng nước tiêu thụ và lượng
nước gây ô nhiễm /1 tấn sữa đã qua chế biến được quy định như sau:
Sữa và kem sữa 1-2 m3 1-1,5 kg BOD7
Bơ và pho mat 2-3 m3 khoảng 2 kg BOD7
Không khí
Hàm lượng chất đặc biệt
trong không khí thải ra từ khâu sản xuất sữa bột dao động tuỳ theo thiết bị được
sử dụng và các yếu tố khác nhau của quá trình sản xuất. Vị trí nhà máy có thể
là yếu tố ảnh hưởng. Tuy nhiên, giá trị giới hạn của chất này là 100mg/nm3
ntp gas khô
Tiếng ồn
Mức độ tiếng ồn bên ngoài
khu dân cư không vượt quá quy định sau:
Nhà máy mới Nhà
máy đang hoạt động
Ban ngày (07.00-18.00) 50 dB (A) 55 dB (A)
Buổi tối (18.00-22.00)
Chủ nhật và ngày lễ 45 dB (A) 50
dB (A)
Ban đêm (22.00-07.00) 40 dB (A) 45 dB (A)
Giám sát
Dưới đây là ví dụ về những
thứ cần được kiểm tra trong quá trình giám sát:
thận không
ã
Có thể
giảm được rò rỉ từ các quy trình khác nhau bằng cách cải tiến quy trình công
nghệ không:
ã
Có thể
giảm được lượng nước dùng không?
ã
Có
những chỉ dẫn trong trường hợp có sự cố nhằm tránh gây khó khăn cho các nhà máy
xử lý nước thải địa phương không?
ã
Những
chất tẩy rửa và chất sát khuẩn nào được sử dụng. Có chất nào ít độc hại hơn
không?
ã
Các hoá
chất và chất thải độc hại cho môi trường có được bảo quản ở nơi thích hợp
không?
ã
Chất
thải từ sữa có ảnh hưởng gì tới hệ thống cống và nhà máy xử lý ? Có thể cải tạo
được gì không? (ví dụ cải tiến dạng chậu để điều chỉnh pH và điều hoà dòng chảy
)
ã
Bộ phận
bốc hơi nước và các thiết bị khác tạo ra kiểu cô đặc nào ?
ã
Chất
lỏng từ bộ phận lọc được xử lý như thế nào ?
ã
Loại
chất làm lạnh nào được sử dụng
ã
Bao bì
phế thải được xử lý như thế nào ?
ã
Có thiết
bị tách dầu ở cửa hàng và garage không?
Các xí nghiệp sản xuất và chế biến sữa
Ngành
công nghiệp
Theo phụ lục của sắc lệnh
bảo vệ môi trường (1989:364), điều 31.03.01 B, xí nghiệp sản xuất và chế biến
sữa có sản lượng trên 50000 tấn sữa /năm cần xin cấp phép hoạt động của chính
quyền địa phương. Các xí nghiệp sản xuất và chế biến sữa có sản lượng từ 50000
tấn /năm trở xuống có nghĩa vụ thông báo với ủy ban sức khoẻ và môi trường địa
phương theo điều 31.03.02 C và 31.04 C.
Ngành chế biến sữa Thụy Ðiển
đã được hợp lý hoá cơ cấu trong vài chục năm trở lại đây. Ngày nay (tính đến
2/1991) có khoảng 70 cơ sở sản xuất và chế biến sữa. Xu hướng tập trung sản
xuất tại một số ít nhà máy nhưng quy mô lớn hơn đang tiếp tục phát triển trong
vài năm tới, mặc dù với tốc độ còn chậm.
ở các nhà máy nàu, sữa được
chế biến thành các sản phẩm khác bao gồm các nhóm sau : sữa và kem, phomat, bơ,
sản phẩm chuyên dụng, sữa bột.
"Sữa và kem " là
các sản phẩm kem và sữa lỏng nhằm mục đích sử dụng trực tiếp, ví dụ như sữa bò béo,
sữa tiêu chuẩn, sữa có tỷ lệ béo thấp, kem kép, kem đơn, các sản phẩm sữa chua
chế biến, sữa chua tự nhiên và kem chua. Ngành này còn sản xuất nhiều loại sản
phẩm khác như nước hoa quả, sup hoa quả, bánh curd, sữa chua hoa quả và gia vị.
Các sản phẩm này có thể sử dụng sữa làm nguyên liệu hoặc sử dụng cùng một hệ
thống đóng gói và phân phối như sữa. Người ta đang trông đợi sự phát triển tiếp
phạm vi hiện nay của các sản phẩm do các nhà máy sản xuất và chế biến sữa làm
ra.
Bảng dưới đây là các số liệu
thống kê về khuynh hướng phát triển các nhà máy sữa và số lượng sản xuất.
Liên hiệp các nhà máy sữa
Thụy Ðiển là một tổ chức thương mại của các nhà máy sữa của nước này, chịu
trách nhiệm về nghiên cứu, phát triển và các dịch vụ.
Số
liệu thống kê từ 1989/90 của các nhà máy sữa Thụy Ðiển
Năm 1950 1970 1987 1988
Tổng lượng sữa sản xuất 4.756 2.932 4.777 3.445
Số lượng các nhà máy sữa 637 163 85 79
Các
sản phẩm được sản xuất
Sản
phẩm sữa và kem 992 1.247 1.410 1416
Kem
47 53 74 74
Pho
mat 52 60 114 123
Bơ 109 42 33 35
Sữa
khô 4 20 26 30
(Tính
theo đơn vị 1000 tấn)
Quy
trình
1.
Thu
nhận, xử lý sữa
Sữa được chuyển trong các
thung chứa từ nơi sản xuất tới nhà máy sữa, ở đó sữa được cân, làm lạnh và bảo
quản trong hầm.
Sữa chưa qua xử lý được tinh
chế và kem được tách ra nhờ thiết bị ly tâm. Sau đó, kem lại được thêm vào để
thu được hàm lượng chất béo cần thiết (theo tiêu chuẩn)
Sữa này được tiệt trùng (ví
dụ như xử lý bằng nồng độ trong một thời gian định trước), nhờ đó vi khuẩn,
virus, men... hầu như bị tiêu diệt hết mà không ảnh hưởng đáng kể tới hình
thức, mùi vị và độ dinh dưỡng của sữa. Quả trình xử lý sư được tiến hành liên
tục trong một hệ thống đóng kín hoàn toàn.
2.Sữa và kem
Ðể tránh tạo kem trên bề mặt
sữa tiêu chuẩn và sữa có hàm lượng béo thấp, sữa cần được xử lý để phầm kem
không bị tách ra.
Các sản phẩm sữa lên men được
làm từ sữa đã qua xử lý (xem phần trên) là sữa đã được tiệt trùng và được đun
tới một nhiệt độ nhất định trước khi cho thêm vi khuẩn tạo acid lactic. Người
ta sử dụng các chủng vi khuẩn khác nhau tuỳ loại sản phẩm, ví dụ như chủng lên
men tạo sữa chua, hỗn hợp chủng vi khuẩn acid lactic...Các vi khuẩn này chuyển
hoá lactose thành acid lactic, CO2 và các chất có mùi thơm. Lúc này,
pH giảm xuống, protien casein đông lại. Thứ gel này bị phá vỡ bằng cách khuấy
và quá trình lên men ngừng lại bằng cách làm lạnh. Sau khi làm lạnh, sữa được
đóng gói và bảo quản trong tủ lạnh.
Sơ đồ sản xuất sữa và kem
Sữa chưa xử lý
¯
Cân trọng lượng Hỗn
hợp sữa nước
¯
Bảo quản lạnh Hỗn
hợp sữa nước
¯
Tinh chế Cặn
tinh chế
¯
Kem Sản
phẩm tinh chế
¯
Tiêu chuẩn hoá
¯
Ðồng nhất hóa H/hợp
sữa nước
¯
Tiệt trùng bằng phương pháp
Pastuer
¯
Giữ lạnh
¯
Tiệt trùng Ðóng
gói Hư hỏng do đóng gói
¯
Giữ lạnh
¯
Lên men Cấy
vi khuẩn
¯
Giữ lạnh
¯
Ðóng gói Hư
hỏng do đóng gói
¯ ¯
Sản phẩm sữa lên men Sản
phẩm sữa không lên men Nước thải
- Dư phẩm
Nước thải từ việc làm sạch
và khử trùng trong sản xuất ở tất cả các công đoạn
3.Sản xuất bơ
Kem đã tiệt trùng chứa khoảng
35% chất béo sữa qua xử lý bằng nhiệt và được lên men nhờ chủng vi khuẩn tạo
acid lactic. Sau khoảng 24h lên men, kem được đun nóng đến một nhiệt độ nhất
định và được đánh lên tạo thành bơ. Một quy trình kỹ lưỡng sẽ đảm bảo phần bơ được
trách ra khỏi pha nước (sữa bơ). Khâu đánh kem tạo bơ được tiếu hành trong
thùng chia thành nhiều mẻ hoặc tiến hành liên tiếp. Nguyên tắc sản xuất đều
giống nhau. Số lượng nhà máy sử dụng thùng đánh kem liên tục ngày càng tăng. ở
những nhà máy vẫn còn sản xuất theo lô mẻ, nước làm lạnh được quay vòng sau mỗi
chu kỳ sản xuất 24h. Sau đó, nước này trộn lẫn với sữa bơ hoặc dùng chính sữa
bơ làm chất làm lạnh.
Bơ sau đó được thêm muối và
đánh đều để thu được 1 nhũ tương nước/dầu đồng nhất. Sau khi đóng gói, bơ được
bảo quản trong tủ lạnh.
Sơ đồ sản xuất bơ
Kem
¯
Tiệt trùng Hỗn
hợp sữa /nước
¯
Lên men
¯
Ðánh mạnh để lấy bơ Sữa
bơ
¯
(Rửa nước) Nước
rửa
¯
Thu bơ
¯
Ðóng gói Hư
hỏng do đóng gói
Sản phẩm bơ Nước thải - Dư phẩm
Nước thải từ việc làm sạch và khử trùng trong sản xuất ở
tất cả các công đoạn
4.Sản xuất phomat
Sữa sau khi tinh chế, tiêu
chuẩn hoá chất béo và qua xử lý nhiệt được lên men nhờ chủng vi khuẩn tạo sữa
chua.
Quá trình hình thành sữa
đông xảy ra trong thùng chứa, và quá trình này thường được tự động hoá nhằm các
mục đích khác nhau.
Một chất tiền tố sẽ được
thêm vào sữa để làm đông vón casein, tạo gel. Gel này được cắt thành các khối.
Ngay sau đó là một loạt khâu đun nóng, khuấy và xử lý vi sinh (tạo acid lactic)
làm cho các khối này đổi khác. Dịch tạo ra trong quá trình này gọi là nước
thừa.
Sữa đông thu được sẽ được
tạo thành phomat bằng cách ép chúng với nhau. Khi phomat được tạo thành dưới
mặt lớp nước, thừa không tiếp xúc với không khí (trước khi ép). Sữa đông sẽ
chảy ra thành dịch đặc. Sự tạo thành này thường xảy ra ở một thùng đặc biệt nhưng
cũng có thể ở thùng phomat. Nước thừa sau đó được làm khan. Các khối phomat được
cắt thành miếng và chuyển vào khuôn.
Còn phomat được tạo thành
sau khi đã loại bỏ nước thừa, không khí sẽ bị giữ lại giữa các lớp phomat.
Phomat rắn được chuyển trực tiếp vào khuôn sau khi đã loại bỏ hết nước thừa.
Trong trường hợp đầu nêu
trên, CO2 do vi khuẩn tạo ra trong quá trình lên men của acid citric
và acid propionic làm tăng số lỗ hổng. Còn trong trường hợp thứ 2, một lượng
lớn mao quản nhỏ và dài được tạo ra.
Sau khi hinh thành, phomay được
ép khuôn. Thời gian ép kéo dài 1-48h, trong thời gian này, nước thừa tiếp tục được
ép ra. Có nhiều cách ép khuôn khác nhau tuỳ theo loại phomat và thiết bị sử
dụng. Trong một số trường hợp, phomat được bằng máy, nước thừa được ép ra chảy
xuống sàn hoặc được thu hồi trong một thiết bị đặc biệt.
Trong một số trường hợp
khác, phomat được ép nhờ chính trọng lượng của nó (tự ép). Ðiều này xảy ra ở
nơi có nhiệt độ ổn định và độ ẩm cao. Phomat được tự ép trên một thiết bị chứa
nước nóng lưu thông. Khi đó, nước thừa sẽ được thu hồi mà không bị pha loãng.
Hiện nay, người ta đã chế
tạo ra những thiết bị hiện đại, nhờ đó phomat cuối cùng được ép trong1 hệ thống
đường hầm áp lực. ở đó, các khuôn sẽ tự động di chuyển về phía trước trong 1 hệ
thống đóng kín và nước thừa cũng được thu hồi trong 1 hệ thống đóng kín.
Muối được thêm trước khi
phomat được tạo thành trong thùng hoặc sau khi ép, khi phomat được ngâm trong nước
muối. Muối sử dụng là muối thường dùng. Nó tạo hương vị cho phomat và còn sử
dụng như 1 chất bảo quản, ảnh hưởng tới cấu trúc và sự biến đổi phomat.
Sau khi ép, phomat được làm
lạnh. Trước kia, thường sử dụng phòng lạnh khô nhưng hiện nay người ta thường
dùng các chậu nước lạnh.
Phomat được giữ ở một nơi
ấm. Khi đã tạo thành một lớp vỏ xung quanh, nó được bao bởi 1 lớp màng để tránh
bị khô và tránh nấm men xâm nhập. Phomat được nhúng vào chậu đựng dung dịch
bao, khâu này làm bằng tay hoặc bằng máy. Thay cho lớp màng, phomat có thể được
bao bọc bởi 1 lớp chất dẻo. Sau đó, phomat được giữ ở 1 nơi có nhiệt độ và độ
ẩm ổn định.
Sơ đồ sản xuất phomat
Sữa đóng cục
¯
Cấy vi khuẩn Lên
men
¯
Men sữa Làm
đông lại
¯
Cắt bánh
¯
Tiệt trùng, đun nóng, thêm muối Nước sữa
¯
Tạo hình Nước
sữa
¯
ép Nước sữa
ép
¯
Thêm muối
¯
Giữ ấm
¯
Bọc sáp /nilon
¯
Giữ lạnh
¯
Sản phẩm phomat Nước
thải - Dư phẩm
Nước thải từ việc làm sạch và khử trùng trong sản xuất ở
tất cả các công đoạn
5.Sữa khô
Sữa khô chứa khoảng 2,5-4% nước,
nhờ đó, vi khuẩn rất khó phát triển.
Sử lý sơ bộ : Sữa được tinh
chế, tiệt trùng và tiêu chuẩn hoá. Sữa thường được bốc hơi đến độ ẩm 25-55% trước
khi làm khô. Khâu bốc hơi được thực hiện trong thiết bị bốc hơi chân không. Có
thể sử dụng màng lọc để thay thế 1 phần hoặc hoàn toàn cho việc bốc hơi.
Khâu sấy khô: Sử dụng kỹ
thuật làm khô bằng trục quay hoặc làm khô bằng phun sấy. Làm khô bằng con lăn
nghĩa là sữa được trải thành 1 màng mỏng trên trục quay đã đốt nóng. Màng mỏng
này sau đó được bóc ra bằng một con dao. Phương pháp này có thể làm khô sữa chưa
qua bốc hơi nước.
Trong phương pháp phun sấy,
sữa được phun ra dưới dạng hạt nhỏ, gặp không khí nóng và rơi xuống. Bột sữa và
không khí khô rơi vào một luồng khí xoáy, từ đó bột sữa được tách ra.
Sữa bột được đóng trong hộp
thiếc hoặc đóng trong gói. Nước thừa được bốc hơi hoặc làm khô giống như với
sữa khô.
6.Vệ sinh - sát khuẩn
Các sản phẩm lỏng được
chuyển đi trong 1 hệ thống đóng kín với mức độ tự động hoá khác nhau, tuỳ theo
quy mô và thời gian lắp đặt. Những nhà máy lớn mới thường có trình độ tự động
hoá cao.
Ða số các nhà máy sản xuất
sữa sử dụng phương pháp làm sạch tại chỗ nghĩa là làm sạch mà khôn cần tháo dỡ
thiết bị. Các chất tẩy rửa được sử dụng là natri hydroxit (còn gọi là lye)
0,4-2,0%, acid nitric dùng làm chất tẩy acid.
Có nhiều hệ thống làm sạch
tại chỗ khác nhau. Một số hệ thống tái sử dụng các chất tẩy rửa, một số khác sử
dụng các chất tẩy rửa chỉ sử dụng một lần.
Một số thiết bị như nồi
phomat mỡ và các máy đóng gói được làm sạch một phần bằng tay.
Việc tiệt trùng sử dụng nước
nóng hoặc hoá chất. Các chất sát khuẩn hoá học được sử dụng là perxit hydro,
acid acetic, Natrihypochlirid.
7.Các hoạt động khác
Các sản phẩm khác như bánh
Curd, nước hoa quả, siro hao quả cũng được sản xuất.
Phòng thí nghiệm để kiểm
soát bên trong.
Hội thảo về bảo dưỡng máy
móc và phương tiện vận tải.
Thiết bị đun trung tâm để
tạo hơi nước và/hoặc nước nóng.
(Các tác động lên môi trường
của những hoạt động này không được đề cập ở tài liệu này)
Tác động môi trường
Phát thải vào nước
Nước thải từ các nhà máy sữa
chứa chất hưu cơ và cặn bã của các chất tẩy rửa với nồng độ và thành phần dao
động tuỳ thuộc vào quy mô nhà máy và trọng tâm nhà máy. ở những nơi sản xuất
nhiều sản phẩm khác nhau, việc chuyển từ sản xuất một sản phẩm này sang một sản
phẩm khác cũng có nghĩa là nguy cơ về lượng các chất tiêu thụ oxi và nước thải
lớn hơn ở những nơi chỉ sản xuất ít chủng loại sản phẩm.
Tinh chế bằng tách chiết
cũng làm tăng lượng cặn ở thiết bị tách. Các thiết bị tách thường tự làm sạch
và không gây ra cặn rắn. Cặn này được trôi khỏi thiết bị tách vào hệ thống nước
thải vào những chu kỳ hoạt động nhất định và vào lúc xả nước trước khi rửa.
Loại cặn nhỏ này chứa 95% nước và tỷ lệ tiêu thụ oxi hoá sinh dự tính là 30kg
BOD7/m3. Cứ 1m3 sữa tạo ra khoảng 1,3l cặn.
Việc sản xuất các chất béo
thực phẩm có thể làm tăng hàm lượng chất béo trong nước thải. Lượng nước thừa
bỏ đi và cặn phomat được đỏ vào nước thải là kết quả của khâu sản xuất phomat.
Nước thải từ các nhà máy sữa
phù hợp với các nhà máy xử lý nước thải địa phương. Tuy nhiên, nếu lượng nước
thải này quá lớn có thể gây vấn đề quá tải. ảnh hưởng của vấn đề này đối với
việc xử lý nước thải là sự hình thành một số lượng lớn các vi khuẩn. Các cặn sẽ
khó lắng. Trong vòng 24h, lưu lượng dòng chảy và lượng chất gây ô nhiễm dao
động rất nhiều. pH nước thải cũng dao động nhiều như một hậu quả của việc thải
ra các dung dịch tẩy rửa acid hoặc kiềm trong các giai đoạn khác nhau của chu
kỳ sản xuất.
Các nhà máy có thiết bị hiện
đại tào ra lượng nước thải nhất định. Các nhà máy sản xuất phomat, chất béo
thực phẩm và các sản phẩm khác thường sử dụng nhiều nước hơn, khoảng 2-3m3/tấn
sữa, làm lượng BOD7 tăng tới 1-5kg BOD7/tấn sữa.
Theo báo cáo, lượng chất béo
trong nước thải đạt mức 45-230g chất béo /m3. Nhưng sự khác nhau về
lượng nước tiêu thụ và mức độ ô nhiễm, nhìn chung là do điều kiện cụ thể của
từng nơi như trang thiết bị, trọng tâm sản xuất...Do đó, cần có sự đánh giá
riêng cho từng trường hợp cụ thể.
Giá
trị bình thường của nước thải từ các nhà máy sữa
Lượng nước thải 1-3m3/tấn sữa
BOD7 500-3500 g/m3
Chất rắn lơ lửng 100-1000 g/m3
Tổng lượng phospho 10-70 g/m3
Tổng lượng Nitơ 15-250 g/m3
Phát thải vào không
khí
Sự phát thải chất đặc biệt
vào không khí chủ yếu liên quan đến khâu phun sấy sữa, nước thừa và hoạt động
của thiết bị đun trung tâm.
Không khí từ tháp phun sấy
không được chứa quá 100mg bột /m3 ntp gas khô. Các khí thải có mùi
thường không phát sinh, trừ trường hợp làm khô các loại sản phẩm thơm khác
nhau.
Các chất làm lạnh có thể bay
ra trong trường hợp có rò rỉ hoặc có sự cố xảy ra. Các chất làm lạnh thường
dùng là CFC và amoniac.
Tiếng ồn
Tiếng ồn từ nhà máy sữa chủ
yếu phát sinh từ các quạt thông gió và ngưng tụ, tháp làm lạnh và hoạt động vận
chuyển đến/đi khỏi nhà máy.
Mức độ tiếng ồn có thể tham
khảo ở trang 4, mục các điều kiện đổ chất thải.
Chất thải
Chất thải và các sản phẩm
phụ được kể ra dưới đây nếu đổ vào hệ thống nước thải sẽ làm tăng lượng BOD7.
Hỗn hợp sữa nước : thu được vào giai đoạn đầu và giai
đoạn cuối của quy trình sản xuất.
Nước rửa bơ: Khi tạo bơ theo từng lô mẻ, sau khi
sữa bơ được hút kiệt, bơ thường được rửa qua bằng nước. Lượng nước cần dùng
khoảng 1,25 tấn nước /tấn bơ. Nước rửa lần 1 có hàm lượng chất khô khoảng 0,6%
và chứa tỷ lệ chất béo cao (khoảng 600mg/l). Hàm lượng BOD7 khoảng
5000g/m3.
Nước thừa: Một lượng lớn nước thừa được tạo ra
là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất phomat (8-9 l/kg phomat). Nước thừa chứa
hàm lượng chất khô khoảng 6,4%. Hàm lượng BOD7 khoảng 44000 g/m3.
Lượng nước thừa đổ vào nước
thải có thể không vượt quá 3% tổng lượng nước thừa. Tuy nhiên, nên cố gắng để lượng
này không quá 1%, đặc biệt với những nhà máy mới hoạt động hoặc mới sửa chữa.
Cặn từ thiết bị tách: Phát sinh khi tinh chế sữa bằng phương
pháp tách.
Dung dịch đậm đặc: Khi bốc hơi sữa hoặc nước thừa sẽ
thu được một dịch đậm đặc. Lượng dịch này phụ thuộc vào hàm lượng chất khô cần
đạt khi bốc hơi. Ðối với sản xuất sữa bột, lượng dịch này khoảng 4-8 m3/
tấn sữa bột. Ðối với nước thừa khi cô đặc cũng thu được 4-8m3 / tấn
cô đặc. Lượng chất gây ô nhiễm nằm trong khoảng 4-40 g BOD7/m3.
Dịch lọc: ở đa số nhà máy sữa đều có màng lọc
ướt để loại các chất ra khỏi không khí khô bay ra từ tháp phun sấy. Dịch lọc
này chứa bột sữa loại.
Nước muối: Phomat thường được làm mặn bằng
cách ngâm trong dung dịch muối. Phomat hấp thu muối và tiết ra nước, làm giảm
độ mặn của dịch muối. Lượng muối mới cho thêm vào làm tăng lượng dịch nước muối
dư. Dịch này thường được dẫn vào hệ thống dẫn nước thải. Ðôi khi dịch nước muối
được thu hồi lạo vào 1 bể chứa và ở đó nó được điều chỉnh độ mặn. Một lượng lớn
dịch nước muối đổ vào nước thải có thể cản trở các quá trình sinh học ở hệ
thống nước thải địa phương. Ngoài ra còn có các loại chất thải khác ở dạng sản
phẩm quay vòng, nguyên liệu thừa và các chất thải độc hại cho môi trường như
dầu tràn từ các phương tiện vận tải và máy móc.
Phát thải phát sinh từ
các sự cố
Sự cố có thể xảy ra trong
khi làm việc với các sản phẩm sữa, các hoá chất, các chất làm lạnh, khi điều
chỉnh pH nước thải và khi làm vệ sinh máy tại chỗ. Nếu thiết bị điều chỉnh pH
bị phá vỡ, có thể gây rắc rối cho nhà máy xử lý nước địa phương. Trục trặc hệ
thống làm sạch tại chỗ có thể gây thải ra acid hoặc natrihydroxid (lye).
Biện pháp xử lý
Nước
Nước thải từ nhà máy sữa có
thể dễ dàng xử lý bằng phương pháp sinh học. Sau khi xử lý sơ bộ, nước thải này
được dẫn tới nhà máy xử lý nước thải địa phương.
Lượng nước thải và lượng
chất gây ô nhiễm có thể giảm được bằng cách khác nhau. Khi thiết kế nhà máy,
cần thiết kế hệ thống ống dẫn, các trang thiết bị cũng như các quy trình sản
xuất sao cho có thể giảm thiểu lượng rò rỉ và lượng chất gây ô nhiễm hoặc nếu
có thể thì thu hồi lại chúng.
Cần thu hồi và xử lý hỗn hợp
sản phẩm trong nước càng nhiều càng tốt. Nếu có thể, nên xử lý những hỗn hợp
sản phẩm trong nước có tỷ lệ chất khô từ 1% trở nên. Nếu quá khó khăn thì tỷ lệ
này có thể tới 2%. Những hỗn hợp sữa /nước có tỷ lệ chất khô từ 4% trở nên có
thể dùng thẳng làm thức ăn gia súc. Tỷ lệ chất khô cần được tăng thêm nếu quá
thấp, có thể bằng cách cho thêm sữa bột vào. Một yếu tố khác ảnh hưởng tới khả
năng có thể sử dụng hỗn hợp này là vai trò của sản xuất đối với nhà máy.
Ðối với 1 nhà máy sản xuất
sữa và kem, giá trị BOD7 được chấp nhận là 1,0-1,5 kg BOD7/tấn
phomat. Giá trị giới hạn cần được thể hiện theo lượng BOD7 tối đa
trong 24h. Cũng cần lưu ý tới những điều kiện cụ thể của nhà máy xử lý nước
thải địa phương.
Nước rửa bơ lần một cần được
thu hồi và xử lý. Ðôi khi nước này được quay vòng trong ngày, trước khi trộn
vào sữa bơ. ở nhà máy hiện đại sử dụng phương pháp tạo bơ liên tục, nước rửa bơ
không được tạo ra.
Trong một số trường hợp, cụ
thể có những yêu cầu liên quan đến lượng phát thải Nitơ và/hoặc phospho. Ví dụ
như giới hạn hàng năm của tổng lượng phospho là 25g phospho/tấn sữa.
Dịch đậm đặc thu được từ
việc bốc hơi được dẫn vào hệ thống nước thải hoặc hệ thống thoát nước bề mặt,
tuỳ thuộc vào mức độ ô nhiễm. Công việc này được tiến hành tự động với máy đo
độ dẫn điện. Với nồng độ chất gây ô nhiễm là 10mg BOD7/l và 0,3mg
phospho/l trở lên thì dịch đậm đặc sẽ được dẫn vào hệ thống nước thải. Một phương
pháp đơn giản để kiểm tra loại nước này có đục hay không. Vì lý do vệ sinh, tổ
chức quản lý thực phẩm quốc gia khuyến cáo rằng không nên tái sử dụng loại nước
này nếu nó có nguy cơ ảnh hưởng đến sản phẩm hoặc thiết bị sản xuất.
Nước muối đậm đặc nếu không
tái sử dụng được thì chỉ nên đổ vào hệ thống nước thải sau khi đã được pha
loãng.
Nên chọn những phương pháp
làm sạch và các chất tẩy rửa ít ảnh hưởng tới môi trường nhất. Những hệ thống
làm sạch tại chỗ cần được kiểm tra và điều chỉnh sao cho lượng chất thải và
chất cặn bã là nhỏ nhất. Nên thay thế hypochlorid bằng các chất khác ít ảnh hưởng
cho môi trường hơn. ở những nới có yêu cầu cụ thể của nhà máy xử lý nước thải,
cần đổi acid tẩu đang dùng sang acid phosphoric.
Nếu nước thải được dẫn tới
một nhà máy xử lý nước nhỏ hoặc nhà máy đang phải hoạt động hết công suất hoặc
nếu nước thải nhà máy sữa chiếm phần lớn trong tổng số nước thải được xử lý,
cần phải điều chỉnh pH và lưu lượng dòng chảy trước khi đưa vào hệ thống nước
thải.
pH nước thải có thể điều
chỉnh trước khi đưa vào nhà máy xử lý. Tuy nhiên, nước thải chứa Natri hydrixid
chặng hạn, có xu hướng tiếp tục ảnh hưởng tới hệ thống xử lý do chúng làm suy
yếu các quá trình sinh học và/hoặc ngăn cản giai đoạn kết tủa hoá học.
Một yêu cầu phổ biến về xử
lý sơ bộ là cần có chậu điều chỉnh pH và điều chỉnh dòng chảy.
Tách chất béo cũng là yêu
cầu thường gặp của khâu làm đông và khâu tạo bơ.
Trong một số trường hợp, xử
lý sinh học cũng được áp dụng. Bằng cách này người ta loại bỏ được 80% lượng
BOD7.
Nếu chất béo và cặn không được
tách hoàn toàn thì cần có phương pháp tách tiếp tục dưới tác dụng của trọng
lực.
Không khí
Trong quá trình sản xuất sữa
bột bằng phương pháp phun sấy, bột sữa được tách ra khỏi dòng không khí khô
trong dòng khí xoáy. Không khí khô đi ra chứa bột sữa còn lại. Trong phương
pháp sấy bằng trục quay, sữa được quấy trên trục quay đốt nóng, thường làm tăng
lượng chất đặc biệt vốn thấp hơn phương pháp trên.
Lượng chất đặc biệt trong
không khí khô bay ra từ tháp phun sấy phụ thuộc rất nhiều vào loại sản phẩm đem
sấy. Với sữa bột giữ nguyên hàm lượng béo, lượng này rất nhỏ, trái lại, với sữa
tách kem thì lượng này rất lớn. Bằng cách lợi dụng luồng khí xoáy khi sấy sữa
tách kem người ta có thể điều chỉnh lượng chất đặc biệt khoảng 200mg. Với phương
pháp lọc ướt, lượng này chỉ khoảng 50mg/m3 ntp gas khô. Lọc qua vải
sợi cho khả năng tách tốt nhất, khoảng 20-30mg /m3 ntp gas khô. Nên
áp dụng phương pháp này ở nhà máy mới hoạt động hay mới cải tạo.
Tiếng ồn
Ðể nhằm làm giảm tiếng ồn,
cần giới hạn thời gian bốc dỡ vận chuyển hàng hoá bằng các xe tải hạng nặng,
đặc biệt là vào ban đêm. ở những nơi có vấn đề về tiếng ồn, nên chọn sử dụng
những loại ít gây tiếng ồn hơn là những loại đang dùng.
Các loại tiếng ồn khác như
tiếng ồn do quạt thông gió, máy làm lạnh có thể làm giảm bằng các phương tiện
thông thường như màn cản âm, thiết bị cách âm.
Chất thải
Một loại cặn rắn thường lắng
đọng ở bên trong của những thiết bị tách kém hiện đại với số lượng khoảng
1-5kg/10m3 sữa. Cặn này được loại bỏ bằng tay. Nó chứa 70% nước và
cần tập trung đổ vào một khu vực rác thải phù hợp.
Dịch nước thừa cần được thu
hồi và xử lý. Cần tránh rò rỉ loại dịch này nhờ sử dụng các phương tiện thu hồi
lâu dài. Nó có thể được chế biến tiếp hoặc dùng làm thức ăn chăn nuôi.
Dịch lọc thu được do xử lý
không khí đi ra từ thiết bị sấy cần được xử lý cùng với các hỗn hợp sản phẩm/nước
khác và không nên dẫn chúng vào hệ thống nước thải đổ ra ngoài.
Bao bì thu hồi và bao bì hư
hỏng lại được trút sạch và ép thành kiện bằng máy ép. Từ đó thu được một dịch nước
ép, chứa chủ yếu là sản phẩm thừa. Dịch này cần được để riêng khỏi các chất
thải khác và có thể được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi.
Các chất thải rắn dưới dạng
giấy, chất dẻo, gỗ không thể tái chế sử dụng được tập trung ở một bãi rác thải
hợp pháp và được đem thiêu huỷ.
Các sản phẩm thừa, sản phẩm
thu hồi và nguyên liệu được chuyển thành sản phẩm phục vụ cho người hoặc làm
thức ăn cho chăn nuôi.
Dầu tràn và hoá chất thừa được
xử lý như với chất thải độc hại với môi trường.
Phát thải xảy ra do sự
cố
Các hoá chất, chất tẩy rửa,
dầu...cần được cất giữ sao cho chúng không rỏ rỉ được vào hệ thống thoát nước
bề mặt hoặc vào hệ thống nước thải. Các bể chứa dầu cần được bao quanh bằng một
bờ ngăn và được lắp thiết bị kiểm tra mức dầu. Các chất tẩy rửa phải được sử
dụng một cách thuận tiện. Cần có kế hoạch hành động để đối phó trong trường hợp
có sự cố rò rỉ chất làm lạnh như CFC, amoniac. Nếu sử dụng CFC/HCFC làm chất
làm lạnh, cần tuân theo hướng dẫn cụ thể của Cục bảo vệ môi trường Thụy Ðiển về
"các thiết bị làm lạnh và bơm nhiệt sử dụng CFC/HCFC".
Sự rò rỉ amoniac có thể gây
ra những ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Một số nhà máy đã được xếp loại
đặc biệt theo luật về Dịch vụ cứu hộ Thụy Ðiển do chúng cất giữ một lượng
amoniac lớn. Ðiều đó có nghĩa là những nhà máy này cần phải thi hành những biện
pháp đặc biệt kể cả nhân sự lẫn trang thiết bị để đề phòng sự cố xảy ra.
Cần thiết kế chương trình
kiểm soát hệ thống làm sạch tại chỗ CIP để đảm bảo không xảy ra phát thải những
chất không kiểm soát được.
Trong trường hợp có sự cố
xảy ra, cần phải báo cáo ngay cho chính quyền quản lý. Các chất thải phát sinh
do hậu quả của sự cố nếu đổ vào hệ thống cống, phải báo cáo cho cơ quan chịu
trách nhiệm quản lý hệ thống xử lý nước thải địa phương.
ủy ban sức khoẻ và môi trường
địa phương cần phối hợp với các cơ quan hữu trách khác ở địa phương mình trong
công tác quản lý theo Luật bảo vệ môi trường đối với những trường hợp sự cố
liên quan đến các hoá chất.
Vị trí
Những nhà máy sữa mới và nhà
máy cũ được mở rộng hoạt động phải cách xa khu dân cư 150-400m.
Các nhà máy sản xuất sữa bột
cần cách khu dân cư 200-400m
Ðiều kiện cho phép hoạt động
BOD7 là một thông
số thường dùng khi quy định các điều kiện về nước thải của nhà máy, cùng với
các giới hạn cụ thể về pH và dòng chảy. Cần theo dõi mức BOD7/COD thường
xuyên nhằm xem có phải điều chỉnh lại các điều kiện của chất thải liên quan đến
COD không. Ngay cả khi các điều kiện này đã cố định thì vấn rất cần theo dõi
mức BOD7/COD để tạo điều kiện cho công tác thanh tra nội bộ.
Trong một số trường hợp còn
có yêu cầu về hàm lượng Nitơ và phospho trong nước thải. Cấp quản lý, nơi cấp
giấy phép hoạt động cũng cần xem xét xem liệu có cần miêu tả các điều kiện liên
quan đến chương trình thanh tra hay không?
Ví dụ về các điều kiện này
có thể tìm thấy ở cuối cuốn sách. Ví dụ này cũng có thể làm cơ sở để đặt ra
những nguyên tắc chỉ đạo. Tuy nhiên, các điều kiện phải phù hợp với những quyết
định của cơ quan quản lý.
Thanh tra
Cần phải lập một chương
trình thanh tra cho tất cả các nhà máy sữa. Chương trình này phải xác định rõ
những gì cần được phân tích, đánh giá, việc lấy mẫu phải tiến hành ở đâu, bao
giờ và như thế nào, các mẫu được xử lý ra sao.
Cần có hồ sơ về các hoá chất
và nguyên liệu được sử dụng trong hoạt động của nhà máy, trong đó ghi tên sản
phẩm, tên hoá chất, số lượng mua, số lượng sử dụng và các thông tin liên quan
đến môi trường.
Theo luật Bảo vệ môi trường,
hàng năm, người được cấp phép hoạt động phải trình báo cáo thường niên lên cơ
quan quản lý. Cục bảo vệ môi trường Thụy Ðiển đã ban hành quy định về những nội
dung cần đưa ra trong bản báo cáo.
Tóm tắt
Với tư cách là cấp quản lý
trung ương theo luật bảo vệ môi trường, cục bảo vệ môi trường Thụy Ðiển chịu
trách nhiệm xuất bản các tài liệu hướng dẫn tóm tắt cho từng ngành cụ thể.
Mục đích của tài liệu hướng
dẫn tóm tắt này là giúp quản lý ngành công nghiệp và xem xét cấp phép hoạt động
theo luật bảo vệ môi trường. Các tài liệu này bao gồm miêu tả khái quát ngành
công nghiệp và những nguy cơ về môi trường mà nó có thể gây ra cũng như những
yêu cầu về môi trường đặt ra. Các tài liệu này không nhằm mục đích cung cấp
thông tin chi tiết về 1 ngành công nghiệp cụ thể và các vấn đề về môi trường
của nó. Các tài liệu này sẽ được liên tục sửa đổi.
Tư liệu cơ bản dùng cho tài
liệu về ngành công nghiệp chế biến và sản xuất sữa này do Inger klofver ở cục
bảo vệ môi trường Thụy Ðiển thu thập. Phòng công nghiệp hoá chất, thuộc cục bảo
vệ môi trường chịu trách nhiệm thường xuyên về ngành công nghiệp này.
Ví dụ về điều kiện cho phép hoạt động
1.
Trừ trường
hợp các điều kiện này đã được quy định từ trước, các hoạt động, bao gồm cả các
biện pháp làm giảm ô nhiễm không khí và nước cũng như các ảnh hưởng xấu tới môi
trường cần được tiến hành như đã ký trong hồ sơ xin phép hoạt động.
1.
Nước
thải tạo ra từ quy trình sản xuất cần được dẫn vào nhà máy xử lý nước thải địa
phương. Hỗn hợp sữa nước có tỉ lệ chất khô từ....% trở lên, hốn hợp nước thừa
và bơ /nước có tỉ lệ chất khô từ....% trở lên không thải vào hệ thống nước
thải.
2.
Nước
thải do sản xuất và nước thải do hoạt động khác được dẫn riêng trong nhà máy và
được dẫn riêng vào hệ thống nước thải.
3.
Ðể điều
chỉnh dòng chảy và nồng độ chất gây ô nhiễm, cần lắp đặt một chậu bồn có thể
tích.....m3. Chậu này cần được lắp một thiết bị để giới hạn dòng
chảy sao cho không vượt quá......m3/h.
4.
pH nước
thải cần được điều chỉnh trong khoảng từ.... đến.... trước khi dẫn vào hệ thống
cống địa phương.
5.
Lượng nước
thải tối đa.......m3/24h chứa hàm lượng chất gây ô nhiễm tối đa
là........kg BOD7 (COD) /24h tính theo lượng trung bình hành tháng
mới đạt yêu cầu để dẫn từ nhà máy bia tới nhà máy xử lý nước thải địa phương.
Trong chu kỳ 24h, lượng nước thải tối đa là.........m3, lượng chất
gây ô nhiễm tối đa là.......kg BOD7 (COD)
6.
Duy trì
hướng dẫn việc điểu chỉnh pH và hướng dấn từng bước xử lý khi có sự cố cho người
có trách nhiệm nếu có sự biến động pH.
7.
Lấy các
chất còn lại trong ống, thùng chứa và thiết bị chế biến sữa trước khi làm sạch
chúng.
8.
Cần lắp
đạt hệ thống kiểm soát pH, lấy mẫu, đo dòng chảy nước thải từ nhà máy sữa không
muộn hơn....
9.
Giá trị
tối đa của chất đặc biệt bay từ các thiết bị đun dùng dầu đốt là 1,0g /kg dầu.
10. Giá trị tối đa của chất đặc biệt phát
thải từ việc làm khô bột nước sữa và bột sữa không quá....mg/m3 ntp
gas khô.
11. Những sản phẩm quay lại, những nguyên
liệu và sản phẩm loại bỏ cần được xử lý và không được đưa vào hệ thống nước
thải.
12. Các khu vực chứa và lưu chuyển hoá
chất không được nối trực tiếp với hệ thống nước thải. Các chất rò rỉ hay tràn
ra sẽ được thu hồi lại và được xử lý như là chất thải gây độc hại tới môi trường.
13. Các tài liệu hay biên bản ghi hoá
chất và nguyên liệu thô cần giữ lại. Nó bao gồm tên sản phẩm, tên hoá chất, số
lượng trao đổi và số lượng sử dụng cũng như là thông tin về môi trường.
14. Duy trì xưởng, phương tiện làm việc
trong xưởng, thiết bị vệ sinh và điểm khoá nhiên liệu, cũng như là khu bốc dỡ
hàng dưới mái che sẽ có lối thoát chất thải dẫn đến một máy tách dầu.
15. Tiếng ồn từ các hoạt động cần được
giới hạn để mức độ tiếng ồn ở bên ngoài các khu dân cư không
quá..........dB(A).
Thuật ngữ "giá trị đích " có nghĩa là nếu vượt
quá giá trị này , người đứng tên trong giấy phép hoạt động có trách nhiệm tiến
hành các biện pháp cần thiết để đảm bảo không bị vượt quá giá trị đó.
Thuật ngữ "giá trị giới hạn " có nghĩa là không
được vượt quá giá trị này.