Chính sách về hóa chất của Thụy Ðiển
Kiểm tra
hóa chất
Mỗi ngày, 1
xã hội hiện đại sử dụng những lượng hóa chất khổng lồ, với hơn 2000 chất đủ các
loại được bán trên thị trường.
Ngoài ra,
các nhà máy công nghiệp cũng tạo ra rất nhiều sản phẩm phụ hóa học một cách
không có cố ý. Trong số đó, 1 lượng lớn các chất rất độc hại với sức khoẻ con
người và với môi trường. Do đó, kiểm soát hóa chất đã trở thành một bộ phận
quan trọng trong chính sách môi trường của Thụy Ðiển.
Mục tiêu
khái quát và định hướng
Mục tiêu
chung của chính sách về hóa chất của Thụy Ðiển là giảm những nguy cơ do các
chất hóa học, sản phẩm và mặt hàng hóa học gây ra cho con người và môi trường.
Chính sách kiểm soát hóa chất của Thụy Ðiển đặt ra 3 mục tiêu chính:
Mục tiêu kiến thức
Bao gồm một
cuộc điều tra tỉ mỉ về ảnh hưởng của các hóa chất và sản phẩm hóa học đối với
sức khoẻ và môi trường. Các nhà sản xuất, các nhà nhập khẩu hoặc những người
cung cấp sẽ chịu trách nhiệm về việc này.
Mục tiêu sản xuất
Mục tiêu
sản xuất có nghĩa là những sản phẩm ít độc hại hơn sẽ được sử dụng. Nếu có thể
sẽ thay thế những hóa chất và sản phẩm nguy hiểm bằng những chất ít nguy hiểm
hơn và thậm chí bằng những chất vô hại.
Mục tiêu vận chuyển
Nghĩa là,
nếu biết vận chuyển hóa chất đúng cách thì sẽ giảm được nguy cơ cho sức khoẻ và
môi trường. Nhưng với điều kiện là, các nhà cung cấp phải cung cấp cho người sử
dụng cả những thông tin chi tiêt về phương thức vận chuyển sản phẩm.
Nguyên
tắc thận trọng và thay thế
Nguyên tắc
thận trọng nghĩa là chúng ta phải cẩn thận ngay cả khi không biết 1 chất nguy
hiểm đến mức nào. Nguyên tắc thay thế nghĩa là khi phải lựa chọn giữa nhiều
chất thay thế, chúng ta nên chọn những sản phẩm hóa học ít có hại nhất. Ðó là
trách nhiệm của tất cả mọi người khi sử dụng hóa chất.
Vai trò
hợp tác quốc tế
Các sản
phẩm hóa học được buôn bán rộng rãi trên thế giới. Sự lan rộng của các hóa chất
chậm phân hủy trên toàn cầu cũng có nghĩa là Thụy Ðiển không thể thích ứng với
chính sách hóa học ở tầm quốc gia nữa. Hợp tác quốc tế là cực kỳ quan trọng. Do
đó, Thụy Ðiển đã tham gia tích cực vào nhiều lĩnh vực quốc tế và theo đuổi
chính sách hóa học của mình ngay cả ở Liên hiệp Quốc và Cộng đồng Châu Âu.
Trách
nhiệm là của ai
Tổ chức
thanh tra hóa học quốc gia chịu trách nhiệm về các chính sách hóa học. Chính
quyền địa phương và Uỷ ban hành chính đảm nhiệm việc giám sát thực hiện ở cấp
khu vực và quận huyện. Việc vận chuyển các hóa chất chủ yếu dựa vào Ðiều luật
về các sản phẩm hóa học, phát thải hóa chất được quy định trong Luật Bảo vệ môi
trường. Theo Luật về môi trường lao động, Ban thanh tra lao động sẽ chịu trách
nhiệm giám sát tại các nơi làm việc trực tiếp.
Những
nguy cơ do hóa chất gây ra đang giảm
Cho đến
nay, chúng ta đang thu được những kết quả tốt trong việc giảm dần sử dụng những
hóa chất độc hại. Một ví dụ điển hình là, những thuốc trừ sâu nguy hiểm nhất
đang được loại bỏ dần trên thị trường. Tổng lượng thuốc trừ sâu được sử dụng đã
giảm đi 1/3. Những nguy cơ với môi trường làm việc đã giảm nhiều. Hiện nay,
Thụy Ðiển đang cố gắng giảm những nguy cơ do các chất khác gây ra như cadimi,
các chất gây cháy chậm brominat, creosote, thủy ngân và parafin chlorinat.
Thay thế
những sản phẩm ít nguy hiểm bằng những loại ít nguy hiểm hơn
"Bất
kỳ ai khi sắp sử dụng 1 sản phẩm hóa học cần tránh sử dụng những hóa chất nguy
hiểm nếu có thể thay thế chúng bằng những loại tương đương nhưng ít nguy hiểm
hơn".
Ðó là
nguyên tắc cơ bản về kiểm soát hóa chất của Thụy Ðiển. Nguyên tắc này thường được
gọi là "nguyên tắc thay thế". Ðôi khi nó còn được gọi là nguyên tắc
lựa chọn. Nguyên tắc được nêu ở Ðiều 5, Luật về các sản phẩm hóa học.
Mọi người
có liên quan
Nguyên tắc
thay thế là nguyên tắc hành động chung. Nó được áp dụng với mọi người khi cần
lựa chọn giữa các chất hóa học và cũng áp dụng với những nhà sản xuất hóa chất
và không phân biệt hóa chất được mua để cho cơ quan hay sử dụng cho tư nhân.
Cơ quan
chính quyền áp dụng nguyên tắc này như thế nào
Cơ quan
chính quyền có thể cũng áp dụng nguyên tắc này khi đưa ra những quyết định dựa
theo luật về các sản phẩm hóa học hoặc các sắc luật bổ sung khác. Ví dụ như, Tổ
chức thanh tra Quốc gia áp dụng nguyên tắc thay thế này khi xem xét cấp phép
cho các loại thuốc trừ sâu khác nhau. Sau đó, các cơ quan hữu trách sẽ kiểm tra
xem liệu có những chất dùng thay thế với cùng chức năng nhưng ít có nguy cơ
nhất đối với con người và môi trường hay không?
Chính
sách hợp tác của EU về các hóa chất
Hợp tác
quốc tế là rất cần thiết để giảm những nguy cơ do các sản phẩm hóa học gây ra.
Chính sách về hóa chất của EU giữ vai trò rất quan trọng. Nếu nhiệm vụ kiểm
soát hóa chất của EU thu được những kết quả tốt thì cần đặt ra những mục tiêu
chính trị rõ ràng về các nỗ lực của cộng đồng cần có.
Chiến lược
chung
Theo quan
điểm của Thụy Ðiển, cần có một chiến lược hợp tác về hóa chất trong phạm vi
cộng đồng Châu Âu, dựa trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản, các chính sách, mục
tiêu và phương tiện.
Trách
nhiệm của nhà sản xuất và các thông tin được cải thiện
Nguyên tắc
thay thế và nguyên tắc thận trọng là những nền tảng quan trọng của chính sách
về hóa chất. Một yếu tố quan trọng khác những nhà sản xuất và nhập khẩu phải
chịu trách nhiệm chính về các sản phẩm và các chất hóa học mà họ cung cấp. Cũng
cần đảm bảo rằng những người sử dụng hóa chất phải có được những thông tin tốt
hơn hiện nay, bao gồm cả những thông tin về thành phần và độc tính của các sản
phẩm hóa học.
Không
thể chấp nhận những tổn thất lâu dài
Cần hạn chế
hoặc chấm dứt việc sử dụng những hóa chất gây ra những tổn thất lâu dài cho con
người hoặc môi trường. Theo quan điểm của Thụy Ðiển thì đây là cơ sở quan trọng
nhất của chính sách hợp tác về hóa chất.
Sự phát
thải những hóa chất vào môi trường có thể không làm biến đổi điều kiện sống của
con người, động vật và thực vật thì có thể thể chấp nhận được.
7 bước để lựa chọn những hóa chất ít độc hại
hơn
KEMI
Uỷ ban thanh tra hóa học Quốc gia Thụy Ðiển
Uỷ ban
thanh tra hóa học Quốc gia Thụy Ðiển (KEMI) là cơ quan thuộc Bộ môi trường
Phần 5 của
Luật về các sản phẩm hóa học nói rằng:
Bất kỳ ai
vận chuyển hoặc nhập khẩu 1 sản phẩm hóa học cần làm theo các bước này, nếu
không cần thận trọng để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tác hại đến con người hoặc
môi trường, bao gồm cả việc tránh dùng những sản phẩm hóa học nếu có sẵn nhiều
chất thay thế ít độc hại hơn.
Một số ưu
điểm của việc thay thế
ã
Giảm nguy cơ gây hại cho con người và môi trường
ã
Giảm nhu cầu về các biện pháp phòng ngừa như thiết bị an toàn và
các chu trình vận chuyển sản phẩm mới đặc biệt
ã
Các chất thay thế có thể mang lại lợi thế khi tiếp thị sản phẩm mới
ã
Có thể giảm lượng chất thải độc hại và giảm các chi phí cho công ty
ã
Có thể có những chất thay thế giá rẻ hơn sản phẩm cũ hoặc sản phẩm
dự kiến
Việc thay thế một sản phẩm có thể giảm chi phí cho các công ty. Tuy
nhiên, chi phí cũng có thể tăng lên nhưng chúng ta phải chấp nhận chi phí cho
các biện pháp giúp làm giảm đáng kể các nguy cơ rủi ro.
Nguy cơ và rủi ro
Nguy cơ
Nguy cơ là
đặc tính cố hữu của một chất gây hại cho con người hoặc môi trường. Nguy cơ đối
với sức khoẻ con người nghĩa là chất đó có thể gây ra dị ứng hoặc ung thư... Nguy
cơ đối với môi trường là chất đó có thể gây ra những thiệt hại cho môi trường
như gây hiện tượng kém phát triển của tảo hoặc hiện tượng mỏng vỏ trứng của
chim... Mức độ nguy cơ hoàn toàn phụ thuộc vào đặc tính của chất đó.
Rủi ro
Ðó là khả
năng có thể xảy ra những mối nguy hại và phạm vi có thể của nó. Rủi ro không
chỉ phụ thuộc vào nguy cơ độc hại (tức là khả năng chất đó có thể ảnh hưởng xấu
đến sức khoẻ con người và môi trường ). Mức độ rủi ro còn phụ thuộc vào các yếu
tố bên ngoài như sản phẩm được sử dụng như thế nào, lượng sử dụng bao nhiêu và
phụ thuộc vào phạm vi lan rộng của sản phẩm đó. Con người và môi trường sẽ chịu
những mối rủi ro càng lớn nếu lượng chất đó càng nhiều.
7 bước của quy trình thay thế
1.
Xác định rõ những đặc tính gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người,
môi trường và tiến hành đánh giá sản phẩm mà bạn đang sử dụng hoặc dự định sử
dụng.
1.
Xác định những giải pháp thay thế bao gồm cả các hóa chất dùng thay
thế và các phương pháp sản xuất.
2.
Những rủi ro nào gắn liền với các giải pháp thay thế đó? Ðiều gì có
thể sẽ xảy ra nếu bạn sử dụng giải pháp đó.
3.
So sánh các rủi ro: So sánh giữa các giải pháp thay thế với nhau và
với sản phẩm hoặc phương pháp mà bạn đang sử dụng hoặc dự định sử dụng.
4.
Thay thế có hay không ? Quyết định xem có nên thay thế không?
5.
Thay thế ? Có. Giới thiệu giải pháp thay thế.
6.
Ðánh giá những thay đổi. Ðó có phải là giải pháp hữu hiệu không?
Bước 1: Xác định những
đặc tính gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người và môi trường
Thu thập
thông tin về các đặc tính gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người và môi trường
của sản phẩm mà bạn đang sử dụng hoặc dự định sử dụng
Xác định
ã
Bạn đang hoặc dự định sẽ sử dụng sản phẩm đó như thế nào ?
ã
Sản phẩm đó có thể gây những rủi ro cho con người và môi trường
bằng cách nào ?
ã
Nó có thể ảnh hưởng tới con người và môi trường ở đâu?
Ví dụ như:
+ ở nơi làm
việc
+ Thông qua
sự phát thải vào không khí hoặc nước
+ Thông qua
sản phẩm chứa hóa chất
+ Thông qua
chất thải từ quá trình vận chuyển, chôn hoặc thiêu hủy, tái chế sản phẩm.
ã
Bạn có thể làm gì để giảm thiểu các rủi ro đó ?
ã
Bạn có nên tránh sử dụng sản phẩm hoặc chất đó không?
Bước 2: Xác định giải
pháp thay thế
ã
Có thể thay thế sản phẩm bằng một loại khác không?
ã
Có thể thay đổi quy trình sản xuất hoặc phương pháp sản xuất để
nhằm thay thế sản phẩm đó bằng một loại khác khác hay giảm hoặc loại bỏ hoàn
toàn việc sử dụng sản phẩm đó.
ã
Các giải pháp thay thế có thực tế không?
ã
Ưu điểm và nhược điểm của các giải pháp thay thế?
ã
Việc áp dụng các giải pháp thay thế sẽ làm tăng hay giảm chi phí ?
Sự tăng giảm đó có kéo dài không hay chỉ trong một thời gian ngắn?
Xin lời khuyên khi xác định các giải pháp thay thế. Các nhà cung
cấp những sản phẩm hóa học có nhiệm vụ cung cấp thông tin về những nguy cơ đối
với sức khoẻ con người và môi trường của sản phẩm của mình và cung cấp hướng
dẫn sử dụng chúng.
Bước 3: Những rủi ro nào gắn liền với các giải pháp thay thế đó
ã
Những đặc tính nào của các giải pháp thay thế gây nguy hiểm cho sức
khoẻ con người hoặc môi trường ?
ã
Các kỹ thuật, quy trình, phương pháp thay thế ảnh hưởng như thế nào
đến sức khoẻ con người và môi trường ?
ã
Con người hoặc môi trường chịu ảnh hưởng như thế nào trước những
sản phẩm thay thế hoặc cặn thải do quy trình sản xuất hoặc sử dụng chúng hoặc
chất thải sau giai đoạn hủy (ví dụ như chôn hoặc tái chế).
ã
Có phải các sản phẩm thay thế, những quy trình hoặc kỹ thuật thay
thế sẽ có khả năng gây hại cho sức khoẻ con người hoặc môi trường ?
Cần thận trọng không chọn 1 sản phẩm hóa học cũng độc hại như sản
phẩm mà nó thay thế. Tránh những chất hóa học khó phân hủy sinh học.
Bước 4: So sánh những rủi ro
Bước này thường
không dễ dàng. Có thể sẽ có rất ít thông tin về sản phẩm hoặc phương pháp thay
thế. Có thể phải so sánh giữa những rủi ro do 1 chất nguy hiểm cho môi trường
gây ra với những rủi ro do 1 chất rất độc với con người gây ra. Liệu có thể
giảm những rủi ro cho con người và môi trường đến mức thấp nhất được không?
Xem xét ví
dụ sau:
ã
Có dễ hạn chế những rủi ro liên quan đến những sản phẩm hoặc phương
pháp thay thế so với những sản phẩm /phương pháp mà bạn đang hoặc dự định sẽ sử
dụng không?
ã
Có sản phẩm nào trong số đó có thể có hại hơn đối với sức khoẻ và
môi trường không?
ã
Có sự khác nhau đáng kể nào giữa các giải pháp thay thế không?
ã
Nếu có thể dự đoán trước rằng các giải pháp này có thể gây hại cho
con người và môi trường như nhau thì những thiệt hại đó là gì ?
ã
Có loại sản phẩm hoặc phương pháp nào trong số đó sẽ gây ra những
rủi ro lớn hơn cho con người và môi trường so với loại khác không?
Bước 5: Thay thế - Có hay
Không?
Các câu hỏi
cần trả lời là:
ã
Có thể thay thế sản phẩm hoặc quy trình đó hay không?
ã
Thay thế bằng cách nào?
ã
Khi nào có thể bắt đầu sử dụng sản phẩm hoặc quy trình mới ?
Bước 6: Thay thế ? - Có
Cần xét một
số vần đề, ví dụ như:
ã
Cần phải làm gì trước khi thay thế sản phẩm hoặc quy trình cũ bằng
một loại mới ?
ã
Ai nên làm gì?
ã
Khi nào thì nên làm ?
Trước khi
tiến hành thay thế cần xem xét một số yếu tố. Sản phẩm mới có cần được thử
nghiệm trên quy mô nhỏ trước không? Ðã có các trang thiết bị cần thiết chưa?
Bước 7: Ðánh giá sự thay đổi
Sản phẩm
mới này có thể sẽ cần được thay thế bằng một loại khác an toàn hơn hoặc tốt hơn
trong tương lai. Do đó, cần tiếp tục xem xét những cải tiến. Liệu có thể giảm được
hơn nữa những rủi ro cho môi trường và sức khoẻ con người hay không?
Những
tài liệu hữu ích
ã
Danh mục các hóa chất bị hạn chế ở Thụy Ðiển
+ Là 1 danh sách các chất
đang bị cấm hoặc đang bị hạn chế sử dụng.
ã
Danh mục theo dõi: Gồm những ví dụ về các chất cần được đặc biệt
chú ý do những đặc tính của chúng có thể gây những rủi ro lớn cho sức khoẻ con
người hoặc môi trường trong một số ứng dụng nhất định.
ã
Danh mục phân loại: Bao gồm những phân loại kèm theo về nguy cơ của
khoảng 2200 chất.
Năm 1984,
một đám mây chết chóc chứa Methyl isocyanat đã là hàng nghìn người ở Bhopal ấn
Ðộ thiệt mạng. Ngay sau đó là một vụ rò rỉ hóa chất nghiêm trọng xảy ra ở West
Virginia. Những sự cố này đã làm dấy lên yêu cầu của các công nhân nhà máy cũng
như cộng đồng ở một số bang đòi cung cấp thông tin về các chất độc hại. Sự quan
tâm của quần chúng và các tổ chức môi trường khắp đất nước đã càng đẩy mạnh
phong trào yêu cầu thông tin về những hóa chất độc hại đang bị rò rỉ "ra
khỏi hàng rào bảo vệ". Do tình hình đó, 1 đạo luật về kế hoạch cấp cứu và
quyền được biết của cộng đồng dã được ban hành.
Ðạo luật về
kế hoạch cấp cứu và quyền được biết của cộng đồng (EPCRA) được hoan ngênh như 1
trong những văn bản luật môi trường có hiệu lực nhất trong vòng 20 năm qua, mục
đích cơ bản của EPCRA là cung cấp thông tin về những nguy cơ hóa học trong khu
vực cho cộng đồng và các công dân. Ðiều 311 và 312 của EPCRA yêu cầu các doanh
nghiệp phải báo cáo cho chính quyền địa phương và chính quyền bang về số lượng
và nơi cất giữ những hóa chất, Ðiều này giúp cộng đồng có thể chuẩn bị đối phó
với sự cố rò rỉ hóa chất hoặc các trường hợp khẩn cấp tương tự nhằm mục đích
giảm rủi ro cho toàn thể cộng đồng.
Thông qua
EPCRA, Thượng nghị viện yêu cầu ban hành 1 "Danh mục rỏ rỉ hóa chất "
(TRI). TRI cung cấp cho các công dân những thông tin chính xác về các hóa chất
độc hại tiềm tàng trong những ứng dụng của chính phủ, nhờ đó, cộng đồng có thêm
năng lực quản lý các công ty và giúp cộng đồng quyết định phương thức quản lý
các hóa chất độc hại.
Ðiều 313
của EPIRA đặc biệt yêu cầu các nhà sản xuất phải báo cáo những trường hợp rò rỉ
vào môi trường của hơn 600 chất hóa học độc hại nhất định. Những báo cáo này sẽ
được trình lên cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) và chính phủ. EPA sẽ đưa
những dữ liệu này vào mạng máy tính quốc gia TRI, mà người dân có thể truy nhập
được. Nguồn thông tin phong phú này sẽ thực sự là nguồn lực cho cải thiện môi
trường. Các nhà máy có nghĩa vụ báo cáo về những trường hợp rò rỉ hóa chất độc
hại vào đất, nước và không khí. Ngoài ra, họ phải báo về việc vận chuyển chất
thải đến nơi xử lý hoặc hủy riêng. Các nhà máy cũng phải báo cáo về các hoạt
động ngăn ngừa ô nhiễm và công tác tái chế hóa chất. Các báo cáo này cần được
nộp trước ngày 1/7 hàng năm và nội dung bao gồm tất cả hoạt động xảy ra ở nhà
máy trong năm trước.
Nội
dung đầy đủ của EPCRA
Một nhà
máy có trách nhiệm phải báo cáo nếu:
ã
Có 10 nhân viên trở lên làm việc trọn thời gian và
ã
Sản xuất hoặc chế biến 600 hóa chất hoặc 28 mặt hàng hóa học được
quy định rõ với khối lượng 25,000 trở lên hoặc bất kỳ loại hóa chất hoặc sản
phẩm nhất định với khối lượng 10,000 pound trở lên và
ã
Tham gia vào những hoạt động sản xuất nhất định ở một trong số các
tập đoàn công nghiệp được nêu trong Danh mục phân loại tiêu chuẩn công nghiệp
của chính phủ Mỹ (SIC) hoặc
ã
Là một nhà máy của liên bang
Hiện nay,
tất cả các nhà máy này có nhiệm vụ báo cáo kể từ tháng 8/1995, khi sắc lệnh do
Tổng thống Clintơn ký có hiệu lực.
Mỗi năm,
hơn 80,000 báo cáo từ hơn 20,000 nhà máy sản xuất và 200 nhà máy liên bang phản
ánh hàng tỷ pound các hóa chất rỏ rỉ - nộp lên EPA.
TRI đặc
biệt ở chỗn nó đánh dấu lần đầu tiên, quần chúng được tiếp cận trực tiếp với
những thông tin chi tiết về các hóa chất độc hại trong cộng đồng của mình. TRI
tạo cơ hội cho các công dân nâng cao hiểu biết về những ứng dụng hóa chất trong
địa phương của mình và sử dụng những hiểu biết này để tác động đến chính sách
môi trường của địa phương và thay đổi khi cần thiết.
Thông
tin của TRI
TRI bao gồm
những thông tin về:
TRI cung
cấp 1 tổng quan toàn diện về ô nhiễm hóa chất do các nhà máy sản xuất ở Mỹ. Tuy
nhiên, điều luật này chưa đề cập đến những hóa chất xâm nhập vào môi trường
không có nguồn gốc công nghiệp như máy giặt khô hoặc trạm rửa xe tự động. Hơn
nữa, khối lượng hóa chất rò rỉ được báo cáo có thể đồng đều giữa các năm hoặc
chỉ là những vụ lớn đơn lẻ. Mặc dù vậy, thông tin TRI vẫn là điểm khởi đầu cho
việc đánh giá những ảnh hưởng của các hóa chất công nghiệp đối với sức khoẻ con
người. Người sử dụng không thể xác định mức độ rủi ro nếu không kết hợp giữa
thông tin TRI và các nguồn thông tin khác. Mặc dù báo cáo TRI còn hạn chế nhưng
nó vẫn là cơ sở cho quần chúng trong việc tìm kiếm những thông tin cần thiết về
các hóa chất độc ở địa phương mình.
Những
hoạt động của EPA nhằm mở rộng phạm vi báo cáo
Hiện nay,
EPA đang xem xét các ngành công nghiệp khác để bổ sung thêm thông tin vào hệ
thống báo cáo TRI và họ dự kiến vào năm 1996 sẽ đưa ra đề xuất về việc bổ sung
thêm một số ngành công nghiệp thích hợp. EPA cũng xem xét khả năng thu thập
thông tin về tình hình sử dụng hóa chất của mạng TRI. Ðây sẽ là cơ sở bước đầu,
nhưng hiện nay, EPA vẫn chưa quyết định xem nếu cần thu thập dư liệu thì thu
thập loại nào.
1 loại
"phiếu báo cáo quần chúng"
TRI là một
loại "phiếu báo cáo quần chúng " cho toàn bộ cộng đồng công nghiệp,
tạo ra 1 động cơ khuyến khích giảm chất thải. Việc thu thập báo cáo hàng năm về
tình hình quản lý chất thải hóa học độc hại trong các ngành công nghiệp quốc
gia trở thành nguồn thông tin có giá trị trong cộng đồng và các cá nhân. Các
công dân có thể sử dụng TRI để đánh giá các nhà máy ở địa phương mình thông qua
so sánh độc tính của các hóa chất được sử dụng... và kết hợp với các nguồn
thông tin khác, đánh giá những nguy cơ đối với sử dụng cộng đồng. Các tổ chức
có thể sử dụng thông tin từ TRI làm cơ sở để đàm phán với các doanh nghiệp sản
xuất ở địa phương.
Ngăn
ngừa ô nhiễm và TRI
Ra đời sau
Ðạo luật ngăn ngừa ô nhiễm (PPA) ban hành năm 1990, các báo cáo của TRI đã trở
nên ngày càng toàn diện hơn. Các cơ quan chính phủ và những nhà máy - nơi phát
sinh chất thải - đã và đang cố gắng giải quyết các vấn đề môi trường nhờ sử
dụng các phương pháp quản lý chất thải ở đầu nguồn, nghĩa là xử lý hoặc tiêu
hủy chất thải ngay sau khi chúng được tạo ra. Các chiến lược ngăn ngừa ô nhiễm
tập trung vào việc hạn chế tạo ra chất thải nhờ các sản phẩm mới, nhờ thay đổi
quy trình, thay thế nguyên liệu thô bằng các chất ít độc hại hơn và rất nhiều
kỹ thuật khác.
Theo tình
thần của đạo luật về ngăn ngừa ô nhiễm (PPA), Quốc hội đã lựa chọn một chính
sách quốc gia, mà theo đó ngăn ngừa ô nhiễm là ưu tiên hàng đầu trong số những
biện pháp quản lý chất thải. Ðối với các chất thải không thể tránh khỏi, cần
thì tái chế chúng được coi là giải pháp tốt nhất. Một nhà máy sản xuất tạo ra
chất thải chỉ nên xử lý hoặc tiêu hủy chất thải sau khi đã xem xét các biện
pháp để giảm lượng chất thải ở tận nguồn và các biện pháp tái chế.
Yêu cầu về
báo cáo của TRI đã thay đổi từ năm 1991, kết quả của luật PPA. Trước năm 1991,
các nhà máy có nhiệm vụ báo cáo về các hóa chất độc hại bị rò rỉ vào môi trường
hoặc được đưa khỏi nhà máy để đến nơi xử lý hoặc tiêu hủy. Từ năm 1991, trở đi,
các nhà máy còn có nhiệm vụ báo cáo lượng hóa chất được tái chế hoặc xử lý thu
hồi năng lượng hoặc được xử lý taị chỗ (Xử lý thu hồi năng lượng nghĩa là đốt
các hóa chất đó để thu nhiệt lượng cho các hoạt động khác ). Khối lượng hóa
chất được báo cáo này bao gồm khối lượng năm trước, khối lượng năm nay và khối
lượng ước tính trong vòng 2 năm tới. Thêm vào đó, các nhà máy cũng phải báo cáo
các hoạt động nhằm cắt giảm bớt nguồn chất thải đã được triển khai ở nhà máy
mình.
Những thay
đổi của TRI sẽ càng nhấn mạnh tầm qua ntrọng của ngăn ngừa ô nhiễm và khuyến
khích các nhà máy phát triển và thực hiện những chiến lược nhằm giảm lượng chất
thải. Những thông tin mới này cũng sẽ giúp quần chúng đánh giá việc thực hiện
cam kết của ngành công nghiệp về chính sách cải thiện môi trường quốc gia. Bằng
cách phối hợp hoạt động với nhau, các doang nghiệp và cộng đồng dân cư xung
quanh sẽ có thể xây dựng những biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm vì lợi ích chung.