Đối phó và thích ứng với biến đổi khí hậu:

Mỗi ngành phải có một chương trình hành động riêng

 

Website Bà Rịa – Vũng Tàu, ngày 19/2/2008

Lũ lụt năm 2007 kinh hoàng, bất thường tại miền Trung và mùa Đông 2007-2008 khắc nghiệt khi nhiệt độ xuống thấp kỷ lục và kéo dài nhiều ngày nhất trong lịch sử quan trắc khí tượng tại miền Bắc, là những biểu hiện rõ nét và cụ thể của biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang ảnh hưởng đến nước ta.

22 triệu người dân bị ảnh hưởng

Theo dự báo của các nhà khoa học, tại Việt Nam sẽ diễn ra nhiều biến đổi nghiêm trọng về khí hậu do ảnh hưởng của tình hình BĐKH toàn cầu. Trong mỗi thập kỷ, nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,10C, nhiệt độ trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1 đến 0,30C. Về mùa đông, nhiệt độ giảm đi trong các tháng đầu mùa và tăng lên trong các tháng cuối mùa. Trên phần lớn lãnh thổ, lượng mưa giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11; mưa phùn giảm đi rõ rệt ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Tần suất và cường độ El-Nino sẽ tăng lên, tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều khu vực của Việt Nam. Số cơn bão xuất hiện muộn hơn và dịch chuyển xuống vĩ độ thấp hơn. Từ nay đến năm 2050, hiện tượng ấm lên của khí hậu trái đất sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như thiên tai lũ lụt tàn phá, và Việt Nam sẽ phải hứng chịu nhiều trận bão, giông tố mạnh hơn nữa.

Theo dự báo của các nhà khoa học tại Việt Nam mực nước biển có thể dâng lên 69cm hoặc 100m vào năm 2100. Còn Ngân hàng Thế giới đánh giá, với bờ biển dài 3.260km và có 2 đồng bằng lớn trên thế giới ,Việt Nam là một trong 5 quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi BĐKH. Mực nước biển dâng cao 1m có khả năng ảnh hưởng đến 12% diện tích và 10,8% dân số; 22 triệu người dân Việt Nam đặc biệt là ở khu vực miền nam, có thể phải di cư. Đồng bằng sông Hồng sẽ bị mất 5.000 km2 ; Đồng bằng sông Cửu Long sẽ bị ngập 15.000 đến 20.000 km2, đây là 2 vùng tập trung dân cư và sản xuất lớn nhất nước ta nên sẽ là thảm hoạ đối với cả nước. Chỉ tính riêng thiệt hại do nhiễm mặn, mất đất sản xuất tại các vùng bị ngập lụt ước tính tổng sản lượng lương thực cả nước sẽ giảm khoảng 12% (xấp xỉ 5 triệu tấn). Do đo,ù ngành nông nghiệp sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên và lớn nhất của BĐKH.

Hậu quả của mực nước biển dâng lên làm hệ thống đê biển không thể chống chọi được với nước dâng cao do bão như thiết kế dẫn đến nguy cơ vỡ đê do các trận bão lớn. Ngoài ra, do mực nước biển dâng cao chế độ động lực của sóng và dòng chảy ven bờ sẽ có những thay đổi gây xới lở bờ và hệ thống đê biển. Vấn đề quản lý đê biển sẽ hết sức phức tạp: Mực nước biển dâng cao làm cho khả năng tiêu thoát nước ra biển sẽ giảm, kéo theo mực nước các con sông trong nội địa dâng lên, kết hợp với sự gia tăng dòng chảy lũ từ thượng nguồn do hậu quả các hiện tượng thời tiết bất thường sẽ làm cho đỉnh lũ năm sau cao hơn năm trước, uy hiếp sự an toàn của hệ thống đê sông các tỉnh phía Bắc và hệ thống đê bao và bờ bao các tỉnh phía Nam.

Di dời dân là biện pháp hàng đầu

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Đào Xuân Học cho biết, để đối phó và thích ứng với BĐKH, bộ sẽ xây dựng chương trình hành động trên cơ sở chiến lược chung của quốc gia, mỗi ngành có một chương trình hành động, báo cáo với Chính phủ tiến hành thực hiện dần công việc. Nơi nào bị ảnh hưỡng nhiều nhất sẽ ưu tiên thực hiện trước, nơi nào ít ảnh hưởng thì chúng ta tiến hành dần dần. “Chiến lược phòng chống, giảm nhẹ thiên tai” mới được Chính phủ phê duyệt trong thời gian qua nêu rõ từng bước di dời là biện pháp hàng đầu. Tất cả những hộ dân thường xuyên bị ảnh hưởng thiên tai, các hộ dân ở ngoài đê luôn bị ngập lụt, ở vùng lũ quét, bị sạt lở đất, vùng ven biển, thường xuyên chịu ảnh hưởng của triều cường, ven sông dần sẽ được di dời đến những nơi an toàn hơn.

Đối với vấn đề sản xuất, chúng ta tiếp tục có những quy hoạch phù hợp với điều kiện BĐKH. Tuy nhiên, khi nói về vấn đề này có rất nhiều việc phải làm như: đê điều, thoát lũ, an toàn hồ đập... Bởi vì, BĐKH không đơn thuần là mực nước biển dâng mà còn liên quan đến vấn đề cực đoan của khí hậu, nên có một chiến lược lâu dài. Trong thời gian tới, Bộ NN&PTNT sẽ triển khai vấn đề này theo nội dung chương trình “Chiến lược phòng chống, giảm nhẹ thiên tai” với ban chỉ đạo, với các tỉnh. Giải pháp của chương trình là nơi nào đắp đê được sẽ đắp đê, nơi nào không đắp đê được, phải thích ứng là bài toán mà ngành nông nghiệp sẽ phải tiếp tục nghiên cứu.

Cùng với việc nghiên cứu, xây dựng chương trình hành động, chúng ta vẫn tiếp tục tiến hành những việc liên quan đến giảm thiểu tác động của BĐKH như: trồng rừng, sử dụng công nghệ sạch, vấn đề giảm khí thải vào không khí... Đồng thời, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu đưa ra các giải pháp cụ thể như: đối với ngành thủy lợi, phải xây dựng lại tất cả những quy trình, quy chuẩn, quy phạm về thiết kế..., đối với ngành nông nghiệp, phải nghiên cứu giống cây có thể thích ứng với vùng ngập mặn và cho năng suất cao...Ông Học nhấn mạnh.

Trần Lan