VẤN ĐỀ Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TẠI MỘT SỐ ĐIỂM ÁCH TẮC GIAO THÔNG Ở HÀ NỘI

tr36.jpg (25566 bytes)Ở Hà Nội hiện nay, tốc độ phát triển của hệ thống giao thông vận tải đô thị (GTVTĐT) rất cao. Riêng tốc độ phát triển của các phương tiện giao thông đường bộ trong các năm 1996 tới nay là khoảng : 8 - 13% đối với xe máy, và 5 - 8% đối với xe ôtô. Chủng loại phương tiện cũng ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng cho giao thông cũng có nhiều thay đổi. Toàn bộ hệ thống đường xá, cầu, cống đã liên tục được nâng cấp, tại các ngã ba, ngã tư, các nút giao thông đã được trang bị hệ thống đèn hiệu dải phân luồng. Nhiều tuyến đường lớn nhỏ tiếp tục được qui hoạch, mở rộng hợp lý, đạt yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo phục vụ tốt cho các hoạt động lưu thông. Bộ mặt giao thông đô thị ở Hà Nội đã và đang thay đổi từng ngày.

Tuy nhiên, quá trình phát triển của GTVTĐT ở Hà Nội cũng thể hiện nhiều bất cập. Xu thế phát triển hiện nay của toàn bộ hệ thống GTVTĐT ở Hà Nội chưa cân đối và hợp lý. Điều này có thể thấy rõ ở sự phát triển thiếu hài hoà giữa số lượng và chủng loại của các phương tiện giao thông với hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị. Hệ thống cơ sở hạ tầng tuy phát triển nhanh và dần dần được hiện đại hoá nhưng không theo kịp với tốc độ phát triển nhanh đến mức không thể kiểm soát nổi của các phương tiện giao thông. Chính vì thế hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị vẫn nhanh chóng bị quá tải và xuống cấp nghiêm trọng. Điều này thể hiện rõ qua các sự cố tắc đường liên tục xảy ra trong và ngoài giờ cao điểm tại rất nhiều điểm trên các tuyến đường giao thông ở Hà Nội trong thời gian gần đây.

Những sự cố ách tắc giao thông xảy ra đều gây nên hậu quả nghiêm trọng về nhiều mặt. Về thời gian, các vụ ách tắc thường kéo dài và làm lãng phí rất nhiều thời gian của hàng ngàn người phải dừng lại tại điểm ách tắc. Về kinh tế, các vụ ách tắc giao thông làm cho nhiều hoạt động lưu thông, buôn bán, trao đổi ... bị ngừng trệ. Như vậy, tổn thất kinh tế không thể tính hết. Về mặt năng lượng, các xe tại điểm ách tắc thường trong trạng thái nổ máy, do đó năng lượng lãng phí do sử dụng nhiên liệu cho các động cơ rất lớn. Về mặt môi trường, có thể coi đây là một nguồn thải mặt tương đối rộng và thải ra một lượng rất lớn các khí thải độc hại, ảnh hưởng tới môi trường và sức khoẻ con người. Các khí này thường có nồng độ cao hơn nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép và do đó chúng tác động rất lớn tới sức khoẻ của không chỉ những người có mặt tại điểm ách tắc mà còn tới cả những cộng đồng dân cư ở các khu vực xung quanh.

Theo các điều tra nghiên cứu, tại các điểm tắc đường các xe thường ở trạng thái dừng, nổ máy và các động cơ hoạt động ở chế độ không tải, khi đó vận tốc quay của trục khuỷu thường là 800 - 1200 vòng/phút. Về đặc điểm, tính năng, mức tiêu thụ nhiên liệu của các động cơ khi hoạt động ở chế độ không tải có thể thống kê theo các chủng loại xe, dung tích xi lanh, tuổi của động cơ, vị trí của vít điều chỉnh không tải ... Mặt khác, mỗi loại nhiên liệu khác nhau khi bị đốt cháy thì sinh ra những loại khí thải khác nhau với hàm lượng và thành phần khác nhau. Điển hình cho tính chất này là hai loại nhiên liệu thông dụng trên điạ bàn Hà Nội : Xăng và điêzen. Qua nhiều tính toán và các nghiên cứu, có thể tổng kết về sự khác nhau trong thành phần chất thải của hai loại nhiên liệu xăng và điêzen đối với 10 chất thải độc hại điển hình.

Bảng 1 : Thành phần các chất độc thải ra khi sử dụng nhiên liệu ở các phương tiện giao thông :
 

STT

Chất thải (g/kg)

Xăng

Điêzen

1

CO

20,81

1,146

2

CO2

172,83

175,64

3

CmHn

29,1

5,74

4

SOx

2,325

3,8

5

NOx

19,7875

24,581

6

R – COOH

1,432

1,327

7

R – CHO

1,125

0,944

8

Muội (C)

1,25

6,250

9

Chì (Pb)

0,625

0,00

10

Bụi

3,902

117,06

Từ các nghiên cứu về đặc điểm, tính năng của các loại động cơ khi hoạt động ở chế độ không thải và mức tiêu thụ nhiên liệu của từng loại xe thông qua bảng 1 có thể tính khả năng xả thải các khí thải độc hại của từng loại động cơ ở chế độ không thải.

Để đánh giá khả năng ảnh hưởng của các sự cố tắc đường tới môi trường và cộng đồng có thể áp dụng mô hình toán nồng độ trung bình của từng loại khí thải theo dạng mô hình hình hộp với công thức tính toán chủ yếu như sau :

Trong đó :

C : Nồng độ các chất khí trong vùng ô nhiễm (mg/m3)

b: Nồng độ các chất khí ở vùng ngoài - nồng độ nền (mg/m3)

p: Mức phát thải trung bình (mg/m2s)

U: Vận tốc gió (m/s)

h, L: Chiều cao và chiều dài của mô hình hình hộp (m)

Kết hợp các kết quả nghiên cứu trên với các số liệu đếm xe thực tế áp dụng cho ba điểm tắc đường điển hình nhất tại Hà Nội hiện nay là Ngã Tư Sở, Ngã ba đường Trường Chinh - Tôn Thất Tùng, Ngã Tư Vọng trong trường hợp có gió nhẹ U = 1m/s có thể đưa ra một số kết quả trong bảng 2 như sau :
 

Số TT

Chất thải (Mg/m3)

Ngã Tư Sở

Ngã ba TC - TTT

Ngã Tư Vọng

 

 

Nồng độ

Vượt TC

Nồng độ

Nồng độ

1

CO

23,87

0,6

14,89

0,4

12,07

0,3

2

CO2

294,9

-

129,0

-

103,4

-

3

CmHm

2,55

5,1

1,46

2,29

1,09

2,18

4

SOx

19,60

49

10,48

26,2

7,48

18,7

5

NOx

27,06

-

14,04

-

10,43

-

6

R-COOH

1,46

24,3

0,79

13,2

0,58

9,7

7

R-CHO

1,09

90,8

0,58

48,3

0,42

35

8

Muội (C)

1,55

-

0,86

-

0,60

-

9

Chì (Pb)

0,56

56

0,31

31

0,22

22

10

Bụi 

13,78

45,9

9,12

30,7

7,03

23,4

Như vậy, ngoài CO2, CmHm, muội là hiện nay chưa có tiêu chuẩn; CO cho phép trong hệ thống TCVN còn cao; còn lại các chất khí khác đều vượt TCCP nhiều lần ngay cả trong trường hợp có gió tương đối mạnh. Với nồng độ quá cao như vậy, bản thân những người có mặt tại điểm tắc đường phải chịu đựng một lượng chất lượng chất độc rất lớn. Do đó có thể dẫn tới hậu quả xấu như các chất độc xâm nhập vào cơ thể, tác dụng lên đường tiêu hoá, hô hấp, tuần hoàn, tăng cường lượng chì trong máu, ức chế khả năng vận chuyển oxi trong máu, khống chế hoạt động của một số loại hoocmon, làm rối loạn hoạt động của một số cơ quan chức năng.

Điều này trong thực tế dẫn đến hiện tượng hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu ở rất nhiều người sống trong khu vực và những người thường xuyên đi lại trên các tuyến đường giao thông, các điểm tắc nghẽn. Theo y học, đây chính là những triệu chứng nhiễm độc nhẹ. Trong trường hợp tiếp xúc nhiều, liên tục có thể dẫn tới nhiều triệu trứng nhiễm độc nặng như : Buồn nôn, mệt mỏi, xanh xao, viêm phế quản ... Hơn nữa, khả năng ảnh hưởng, tác động tới hệ thần kinh, hệ tiêu hoá, hô hấp của các chất độc này về lâu dài là rất nguy hiểm. Do đó xác suất bị các bệnh đường hô hấp, tim mạch của cộng đồng dân cư xung quanh các khu vực có đường giao thông mật độ cao, thường xảy ra ách tắc rất lớn, đặc biệt là các bệnh về phổi. Rõ ràng, mức độ nguy hại của các khí độc thải ra trong quá trình tắc nghẽn giao thông và các tuyến giao thông có mật độ cao ảnh hưởng tới môi trường sức khoẻ cộng đồng dân cư quanh vùng là rất nghiêm trọng.